Friday, May 9, 2014

DƯƠNG THU HƯƠNG - BÊN KIA BỜ ẢO VỌNG - PHẦN CUỐI

CHƯƠNG 12
Một chú bé mười lăm tuổi, khá kẻng trai, tay đút túi quần đi trên hè phố, vừa đi vừa hát mải mê. Đôi mắt cậu bé mơ màng làm sao… Nguyên nghĩ, anh nhớ lại hồi anh mười lăm tuổi, ngờ nghệch hơn và còn trẻ hơn chú bé ấy nhiều. Mười lăm tuổi bây giờ, đã biết hát bài hát về tình yeu. Mười lăm tuổi ngày xưa, anh đứng dưới gốc ổi, nước mắt chảy ròng ròng vì bị tước đi một miếng bánh ngọt…
Cô chủ quán cà phê đi tới bàn :
- Anh gọi cà phê đen ?
- Vâng.
Nguyên gật đầu, đón tách cà phê từ tay cô gái xinh đẹp, mặc quần Jin trắng và áo pun đỏ, giống nữ diễn viên hơn là giống cô bán giải khát. Anh gọi :
- Cho tôi xin một bánh ngọt nữa.
- Vâng, có ngay.
Cô gái trả lời và gần như tức khắc, đem ra chiếc bánh gatô nữa. Nguyên gạt chiếc đĩa trống sang một bên, anh đã ăn hai chiếc bánh ngọt mà vẫn đói cồn cào. Buổi sáng uống nhiều càphê quá mà không kịp ăn lót dạ. Bây giờ, sau khi đã xong việc, lẽ ra có thể kiếm một miếng bánh mì hoặc một bát phở nhưng anh lại mắc hẹn với Nguyễn Trung, một cán bộ trẻ của toà án. Đồng hồ đeo tay của Nguyên chỉ mười giờ kém mươi lăm. Chàng trai này đã trễ hẹn năm phút. Nguyên đoán chắc có một sự cố nào đó bởi lẽ trong những lần hẹn trước, không bao giờ Trung đến trễ một giây. "Trước ba phút, đó là nguyên tắc bất di bất dịch của tôi từ khi vào trường đại học, dù là lên lớp, hay đi gặp người yêu"
Trung đã nói với anh như vậy ngay từ khi hai người hẹn gặp nhau buổi đầu tiên, với vẻ cứng rắn và tự tin hiếm có ở những chàng trai hai mươi bảy tuổi. Đó là một thanh niên mảnh khảnh, dáng đi vội vã, cặp mắt sáng và chiếc cằm vuông lúc nào cũng xanh rì những râu. Trong cách nhìn ngắm xung quanh, Trung bộc lộ sự từng trải và bình tĩnh mà nhiều người ở lứa tuổi sáu mươi cũng còn phải tìm kiếm. Khoé miệng cười, cái nheo mắt tinh quái giễu cợt, lối rọi thẳng vào mặt người đối diện từng chùm tia nhỡn quang bỏng rát khi cần thiết… Tất thảy đều chinh phục Nguyên. Anh cảm nhận được ở chàng trai đó hình anh của chính mình mười năm trước, nhưng cứng cáp hơn, dạn dày hơn và thấm sâu hơn. Các đặc tính ấy vô cùng cần thiết cho sự phát triển của xã hội, bởi lẽ nó là một trong những cây cầu thang để cho thế hệ sau leo cao hơn thế hệ trước…
Mười giờ kém mười một phút. Trung vẫn chưa tới. Cậu bé lúc nãy đã quay lại, đi ngang qua tiệm càphê Nguyên ngồi, hát say mê như chỉ có một mình giữa thế gian :
Rồi trời mịt mùng
Làn mưa rơi xoá nhoà
Hình bóng em tôi
Lời bài hát buồn quá, và khiến người đàn ông chạnh lòng
Hình bóng em tôi
Chìm dần trong gió mưa…
Cậu bé vẫn gào lên, không biết người đàn ông rầu rĩ ngồi trong quán giải khát kia đang muốn nức nở theo… hai tay đút túi, nó đi xa dần, tiếng hát nhỏ dần theo. Nguyên ngồi lặng, đuổi theo những lời hát, trí nhớ xót xa của anh trôi như con thuyền xuôi dòng nước. Đám khói thuốc lá mỗi lúc một toả mờ bầu không gian trong quán trà chật hẹp. Nguyên không nhớ rằng mình còn đang hút thuốc, đốm lửa liếm dần tới tận ngón tay anh. Lúc đầu ngón tay bỏng rát khiến người đàn ông thức tỉnh, ném mẩu thuốc vào bình gạt tàn cũng là lúc Nguyễn Trung bước vào:
- Xin lỗi, xin lỗi anh… Chàng trai nói:
- Tôi không thể thoát khỏi một tai nạn bất ngờ, vừa cách đây hai mươi phút.
Trung ngồi xuống ghế, giơ tay xua làn khói ngột ngạt trong phòng. Nguyên bảo:
- Tôi chắc có sự cố bất ngờ nào đấy, vì anh luôn luôn là người đúng hẹn… Anh dùng gì?
- Cho tôi một càphê đen như anh thôi…
Trung đáp và móc túi ra một gói nhỏ:
- Đây này, sự cố đây này… Anh hãy xem đi…
Nguyên cầm lấy cái gói xinh xẻo ấy, đoán chắc là một vật có giá trị. Anh mở hai lớp giấy gói, thấy một chiếc hộp nhung đỏ thắm, có hình những bông hồng mạ vàng trên nắp và đường hoa văn cực kì tinh xảo chạy quanh. Giữa nắp và đáy hộp còn nguyên tem dán.
- Anh chưa mở ra xem hay sao?
Nguyên hỏi.
- Chưa.
Trung lắc đầu, uống một ngụm càphê nóng cô chủ quán vừa đem ra và nói thêm:
- Anh mở ra đi, đó là một điều thú vị. Càng giống như sự thú vị của người được mời cắt băng khánh thành một công trình xây dựng hoặc một cuộc triển lãm..
Chàng trai nheo mắt lại, và những tia sáng đầy vẻ bỡn cợt hiện lên trong mắt anh. Nguyên mỉm cười bóc tem bảo hiểm, lật nắp hộp: Trong lớp nhung lót đen óng ánh, nổi bật lên chiếc đồng hồ phụ nữ vỏ và dây đeo bằng vàng tây: A… Cả hai người cùng thốt ra tiếng kêu một lúc:
- Rađô mười bốn hạt xoàn, thứ đồng hồ của loại dân giàu có nhất thời nay đấy… Anh xem, ông Nguyễn Thanh Hoà chịu chơi không?
Trung nói, uống một ngụm càphê cuối cùng. Nguyên chìa bao thuốc ra:
- Anh hút cho vui.
- Không, anh đãng trí thật. Tôi có hút thuốc đâu?... Chúng ta gặp nhau lần này là lần thứ bao nhiêu rồi mà anh vẫn cứ chìa bao thuốc ra như lần đầu.
- A… xin lỗi. Có lẽ tôi lẫn rồi.
- Chưa, chưa lẫn đâu… Nhưng chắc chắn anh bị phân tâm bởi một điều gì đó…
Nguyên im lặng không trả lời, trong thâm tâm, anh thốt lên tiếng kêu: “Thằng bé này thông minh thật”. Trọng không chờ Nguyên, nói tiếp:
- Bây giờ chúng ta vào chuyện chính: Trước khi tôi tới đây hai mươi phút, có một người đàn ông tầm thước, da đen, trông ủ rũ đứng chờ trước cửa. Khi tôi vừa mở cửa định dắt xe ra, anh ta liền hối hả bước vào và đóng ngay hai cánh cửa lại. Sau đó, không chờ tôi hỏi, anh ta tự xưng là đại diện cho một số đông anh em nhân viên văn phòng và lái xe thuộc cơ quan Nguyễn Thanh Hoà. Theo anh ta, đa số anh em rất thương thủ trưởng và rất tiếc cho lỗi lầm của thủ trưởng, rằng đó là một người tài ba và có rất nhiều thành tích cách mạng, rằng so với các khuyết điểm hoặc các nhầm nhặt, cống hiến của thủ trưởng Hoà vẫn nhiều hơn gấp bội, rằng quần chúng mong chờ ngày thủ trược được về để điều hành cơ quan… Sau rốt, anh ta tặng tôi… à không, tặng cho người yêu của tôi một kỉ niệm… Tôi buộc anh ta mang về, nhưng anh ta lủi nhanh như một con chuột ngày. Tôi không muốn chạy ra phố kêu gọi ầm ĩ, vả lại… tôi muốn mang tới đây để anh có thêm một bằng cớ nữa. Bây giờ, anh hãy giữ lấy nó. Anh giữ có lợi hơn tôi khi chúng ta công bố sự thật này… Nhưng còn người đàn ông kia, anh có biết anh ta là ai không, và vì lý do nào anh ta làm việc ấy?
- Đó là một tù binh của Hoà, sự sống còn của ông ta phụ thuộc vào sự sống còn của y… Nhưng đó là nhân vật thứ yếu. Việc tôi nhờ anh đã tới đâu rồi? Sở dĩ tôi hối thúc anh vì tổng biên tập báo đã về nước sáng hôm qua. Sáng nay ông ta còn nghỉ nhưng chiều nay, chắc chắn ông ta sẽ tới cơ quan và tôi muốn có niềm tin chắc chắn vào điều tôi định nói.
- Tôi đã thu thập toàn bộ những tài liệu liên quan và hồ sơ pháp lý vụ án cho anh. Tất cả đã nằm gọn trong tủ riêng tại nhà tôi. Nhưng bây giờ, tôi sẽ mời anh làm một trắc nghiệm…
Trung xem giờ và nói thêm: - Ta đi cho sớm. Khoảng hai mươi phút nữa mới tới giờ điểm. Anh hãy gói lại nguyên xi chiếc đồng hồ và bỏ nó vào túi cho tôi… Được rồi, túi áo anh có thủng không đấy? Nếu mất, cả hai chúng ta sẽ lâm nạn, và không ai bào chữa nổi cho mình.
Nguyên thanh toán tiền cho chủ quán và họ cùng đi ra. Hai người đạp xe song song, nhưng không ai nói với ai điều gì. Tới cột đồng hồ trước cửa rạp hát Hồng hà, Trung bảo Nguyên:
- Chúng ta đứng ở đây. Lát nữa, vợ của tay Hoà sẽ từ chợ ra, cô em gái tôi đã đoán chắc như vậy, mình sẽ mời bà ta vào nhà hỏi chuyện. Anh im lặng nhé, mọi việc để mặc tôi.
Nguyên gật đầu, anh hồi hộp đôi chút. Trung dường như không để ý tới anh nữa, đôi mắt sáng chói của chàng trai nhìn thẳng về phía trước, nới đám người nội trợ đang đi đi lại lại, nhộn nhạo và rối rắm với đủ màu sắc áo, đủ kiểu tóc, kiểu khăn, đủ các gương mặt…
- Con em tôi kia kìa…
Chàng trai nói, Nguyên nhìn theo anh mắt Trung, thấy một thiếu phụ trẻ, rất trẻ, nét giống Trung nhưng ôn hoà hơn, mập mạp hơn. Nước da anh trai xanh xao, còn gương mặt cô em lại đỏ hồng như đánh phấn:
- Nó mới ở cữ được tám tháng.
Trung nói thêm, dường như để giải thích cho ánh mắt băn khoăn của Nguyên. Một lần nữa, Nguyên phải thầm thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên thán phục trong lòng. Chàng trai vẫn nhìn về phía cô em gái, dường như nhỡn lực của anh có sức hút mạnh và chính xác siêu nhiên nên cô gái đang lúi húi chọn rau bỗng ngẩng đầu lên và ngay tức khắc giơ tay ra hiệu cho Trung. Rồi cô đi về phía dãy người đang nối đuôi nhau trước quầy bán thịt, nói gì đó với một người đàn bà mặc áo xanh. Khoảng vài giây sau, cô đưa bà ta ra khỏi đám đông đi về phía hai người chờ. Khoảng cách mỗi lúc một ngắn dần và Nguyên nhận ra người đàn bà mặc áo xanh kia đã già, khoảng gần sáu mươi hoặc kém chút ít. Một khuôn mặt dài, ảo não với hai nếp nhăn dài vòng quanh mép. Bà ta có cái dáng đi khá đặc biệt, người lúc lắc chao đảo sang hai bên và đầu luôn luôn chúi về phía trước.
- Chào bà.
Khi Trung cất tiếng chào, bà ta giật phắt người, ngẩng mặt lên:
- Ôi, không dám, chào anh… chào hai anh…
Nguyên nhìn rõ đôi mắt nhỏ, đục, hốt hoảng như mắt con chim sa lưới. Trên gò má, sau đuôi mắt chi chít những nếp nhăn dài và sâu. Anh chợt se lòng, Trung nói:
- Chúng tôi có vài điều muốn hỏi bà. Xin bà vào nhà cô Trinh chơi.
- Tôi… tôi có biết gì đâu? - Người đàn bà lắp bắp – Tôi không biết gì cả…
- Chúng tôi chỉ hỏi những đièu bà biết.
Chàng trai đáp với giọng nhẹ nhàng. Cô em gái nói thêm:
- Bà đừng lo, mọi chuyện đơn giản thôi… Bà có lỗi gì đâu mà ngại…
Cô mở cửa, bước vào nhà, mọi người vào theo. Nhà Trinh tuy gần chợ, nhưng khi khép hai cánh cửa gỗ dày lại trở nên yên tĩnh. Cô pha nước, sắp chén đầy đủ cho anh rồi vào buồng trong, sau khi nói thêm một câu khích lệ với người đàn bà. Bà ta thu hai tay vào lòng, mắt chăm chăm nhìn xuống chén nước. Một khoảnh khắc yên tĩnh trôi qua. Nguyên chờ đợi, và Trung cất tiếng:
- Nhà bà nhiều khách lắm phải không?
- Không.
Người đàn bà đáp tức thì, đôi mắt chớp chớp như để giữ gìn những ý định thầm kín bên trong. Đó chắc chắn là một lời nói dối, nhưng nét mặt Trung không xao động. Hình như anh đã quá quen với những câu trả lời đại loại như thế. Chàng trai tiếp tục hỏi bằng một giọng bình thản:
- Nhà bà ít khách lắm à?
- Không… à… vâng. Nhà tôi ít khách.
- Giám đốc một đơn vị vận tải lớn như vậy mà không có khách tới giao dịch hay sao?
- Không, tôi không biết.
- Còn bạn? Ông Hoà khong có bạn à ?
- Không, không… Mà nếu có, chắc ông ấy tiếp ở cơ quan.
- Từ ngày ông Hoà bị giam giữ, không có ai đến nhà bà à ?
- Không có ai.
- Ai đi tiếp tế cho ông Hoà, bà hay các con bà?
- Các con tôi.
- Ai thường xuyên làm việc ấy? Anh Huy, Anh Hoàng hay chị Xoan?
- Tôi không biết. Chúng nó tự cắt lượt nhau.
- Mọi việc xảy ra trong gia đình bà, không ai bàn bạc với bà hay sao?
- Không ai cả.
- Bao giờ con trai thứ hai của bà được gọi đi làm Luận án phó tiến sĩ ở Hung?
- Tôi không biết. Mọi sự ở bố con nó với nhau.
- Chị Hoan vừa xây xong một căn nhà hai tầng đẹp lắm, bà tới thăm chưa?
- Không, không... Người đàn bà lắc đầu:
- Con gái đã lấy chồng, tôi không để mắt tới nữa...
Bà ta trả lời vẫn một giọng đều đặn như những giọt mưa nhỏ từ mái tranh xuống, không chút lay động, không chút do dự băn khoăn. Nguyên bắt đầu sốt ruột, anh thấy Trung ngồi im phăng phắc hai tay đặt trên bàn, nét mặt thản nhiên tới mức độ đáng ngờ vực.
- Anh Hoàng con bà vừa được đề bạt lên trường phòng điều phối, bà đã tổ chức ăn mừng chưa?
Chàng trai tiếp tục hỏi, giọng nhẫn nại.
- Tôi không biết chuyện đó.
Người đàn bà đáp với vẻ gan góc lì lợm hơn. Mặt bà ta tựa như một hang sâu đã được bít bằng các viên đá tảng, tăm tối và bền vững.
- Anh Hoàng đã tập kết đầy đủ nguyên vật liệu để xây nhà mới. Bà xem kiểu vẽ biệt thự tương lai chưa? Của một kiến trúc sư trẻ tuổi có tài vừa tốt nghiệp đại học kiến trúc ở Xôphia về.
- Không, tôi không biết gì cả.
Tới đó, Trung đột nhiên dằn giọng xuống. Và sự biến đổi âm thanh khiến bà ta giật thót người lên:
- Điều này, bà phải biết…
Những tia sáng nhọn như kim từ đôi mắt chàng trai phóng thẳng về phía trước. Luồng nhỡn quang bỏng rát ấy khiến gương mặt người đàn bà đờ dại.
- Bà có một ngôi nhà rất đẹp ở quê bà - Hải Hưng. Năm gian trên làm nhà thờ họ. Ba gian dưới là nơi bà cụ sinh ra bà và người em trai tàn tật của bà sống với nhau.
Người đàn bà vẫn ngồi như phỗng. Đôi mắt bà ta giống như đá đeo, không nhìn vào điểm nào đó giữa không gian. Chúng trơ trơ, tựa hồ mắt những pho tượng trong bóng tối hậu cung của đền chùa. Chúng mù loà, hoặc chúng nhìn vào đáy nước hư vô…
- Bà là người con hiếu thảo, cho tới hiện nay, mẹ bà và em bà vẫn dựa vào bà mới có được một đời sống sung túc. Có phải vì ngôi nhà tám gian ấy mà bà viết đơn kháng án cho ông Hoà chín năm trước, và bà đã vu cho anh Tiến, bố cháu Vũ Thúy Hồng tội hiếp dâm con gái không?
Không có tiếng trả lời. Cả khuôn mặt lẫn đôi mắt mờ đục của người đàn bà biến thành vực thẳm.
- Cách đây năm hôm, ông Hoà đã cho người cháu ruột gọi ông ấy về Hải Hưng, bán năm gian nhà trên để lấy tiền chạy chọt.
Từ cái khuôn mặt bất động như tảng đá vụt lên cơn dao động, các nếp nhăn có rúm lại quanh hố mắt và hai bên mép. Và từ đôi mắt đờ dại tối tăm kia bỗng toé lên tia lửa điên cuồng, hoảng loạn.
- Điêu… không phải. Đấy là chuyện điêu toa..
Trung rút trong túi áo ngực một chiếc phong bì bằng giấy viết học trò kẻ ô, dán lem nhem. Những dòng chữ xiên xẹo đề trên mặt trước, to như chữ học sinh vỡ lòng:
Em Trương Văn Từu
Thôn... xã... huyện.... tỉnh Hải Hưng
Gửi chị Trương Thị Tựu
số nhà... Phố... Hà Nội
Dưới chữ Hà Nội viết hoa là một nét gạch run rẩy. Mặt người đàn bà trắng bợt như ngâm nước, những ngón tay quờ quạng mãi không mở được phong bì. Gian phòng im lặng tới mức những tiếng động của phố xá dù rất nhỏ cũng vang lên rõ mồn một. Trung nói tiếp:
- Có phải đấy là cái giá mà ông Hoà đã mặc cả với bà chín năm trước không?
Người đàn bà không trả lời, gương mặt vừa nhợt nhạt đã xám lại như tro. Đôi mắt hoang vắng tựa một ngôi nhà sụt mái. Trung tiếp:
- Vì cái giá ấy bà đã vu khống cho một con người cái tội ác đê hèn nhất.
Anh ngừng lại giây lát, hạ giọng, khẽ khàng:
- Có bao giờ bà nghĩ lại việc làm đó hay không?...
- Có...
Người đàn bà chợt cất tiếng trả lời, giọng khàn khàng như mèo đực gào đêm:
- Tôi có nghĩ, có nghĩ... Nhưng tôi làm sao được. Đã mười mấy năm nay, lão ấy có nhòm ngó gì tới tôi đâu? Tôi là mụ đầy tớ cho bố con lão ấy ở trong nhà: Nào cơm canh, chợ búa, giặt giũ, giỗ tết... Cái lũ bạc như vôi ấy chỉ quý bố chúng nó thôi. Lão ấy quyền thế cao, tiền bạc nhiều, lão lo từ công việc, tới nhà cửa, chồng vợ, con cái cho chúng. Còn tôi, tôi biết cho chúng nó cái gì?... Thế mà tôi lại đẻ ra cái lũ ấy, nên tôi vẫn phải thương, phải yêu chúng. Chiều ý lão Hoà, tôi vẫn còn nhà cửa, con cháu, cơm ăn áo mặc. Trái ý lão, tôi ra đứng đường... tôi biết làm sao?... Trên đời, chỉ có hai người đoái hoài tới than tôi, bà cụ dưới quê với cái thằng Què...
Tới đó, từ đôi mắt đục mờ những tia máu rỏ rai hai giọt lệ lớn. Chúng lăn qua gò má và rớt xuống tận cằm. Người đàn bà ngồi yên, không cất lên một tiếng nấc nhỏ, nhưng những giọt nước mắt cứ nối nhau troà qua mi, theo đúng lối của giọt lệ đầu tiên mà chảy xuống. Giờ lâu, bà ta đưa tay chùi nước mắt, gương mặt héo úa ngước lên:
- Tôi có phải ngồi tù không?... tù cũng được.
Trung không đáp, anh bảo người đàn bà với giọng nhẹ nhàng, nhưng lạnh lẽo:
- Bà có thể về được rồi.
Quay vào trong, anh gọi:
- Cô Trinh đâu?
Trinh từ trong buồng, vén tấm màn che gió đi ra. Cô mở cửa đưa người đàn bà đi một đoạn mới trở lại. Nguyên châm thuốc, bắt đầu nhả khói:
- Tôi có làm anh khó chịu không?
- Không sao, tôi không hút nhưng chịu được khói thuốc, thích nữa là khác.
Trung ngó vào buồng trong, bảo:
- Có gì cho chúng tôi ăn không, cô Trinh?
- Có chứ… - Cô em ngoan ngoãn đáp – Em xuống làm thức ăn đây. Cơm cạn rồi…
Trung trở lại bàn, rót nước uống và hỏi Nguyên:
- Anh thấy thế nào?
- Thật ghê tởm. – Nguyên đáp - Tại sao lúc đó người ta không tìm ra căn nguyên nhỉ.
- Nói cho đúng ra là người ta không muốn tìm. Trong mọi trường hợp, chín mươi phần trăm ý chí của con người quyết định thành hay bại. Tất cả các biện pháp hiệu lực nhất, các phương tiện khoa học tối tân nhất cũng trở thành vô nghĩa một khi con người không muốn nhìn nhận và bảo vệ công lý.
Chàng trai trả lời bình thản, giọng điệu đều đặn, hơi buồn. Đôi mắt sáng của anh như phủ lớp khói mỏng, trong một tích tắc rồi sau đó lại rực lên. Nguyên chưa gặp người nào có cặp mắt quyền uy và mạnh mẽ như vậy. Anh im lặng rít thuốc, ngắm Trung với vẻ trìu mến và cảm phục thầm kín. Rồi sau khi ném mẩu thuốc cuối cùng đi, anh hỏi:
- Đã bao giờ anh tự nghĩ rằng mình phải đầu hàng chưa?
- Cũng có lúc, nhưng chỉ trong phút chốc thôi. Tựu trung, cho tới giờ tôi vẫn chưa đầu hàng!
- Nhưng ngày mai, ngày kia, hoặc một ngày xa hơn nữa…
- Rất có thể… Con người là sinh vật nhạy cảm và mau thay đổi nhất trong mọi loài… Vì thế, xã hội muốn tồn tại phải có những nguyên tắc để đo đếm và kiểm tra con người. Phải có những nguyên tắc để gìn giữ các mối tương quan. Cái chính là nguyên tắc, chứ không phải lòng tốt của cá nhân. Hôm nay tôi trung thực, nhưng ngày mai rất có thể tôi gian trá. Hôm nay tôi yêu thương anh, nhưng ngày mai có thể vì quyền lợi cá nhân tôi sẽ tiêu diệt anh… Một xã hội tốt đẹp là xã hội tồn tại trên những nguyên tắc của công lý chứ không trông cậy vào lòng tốt của bất kỳ cá nhân nào…
Cô Trinh bưng lên một mâm cơm khá thịnh soạn, đặt lên bàn. Trung đưa mắt nhìn qua, khen:
- Dạo này cô đã biết đường nấu nướng rồi đấy.
Thiếu phụ trẻ bẽn lẽn cười:
- Nhà em dạy đấy. Hồi trước ở nhà, anh Trung vẫn mắng em là đồ con gái đoảng, không ai thèm lấy.
Nguyên nhìn Trung:
- Hình như anh có chút máu gia trưởng trong người, đúng không?
Chàng trai cười, không đáp. Anh so đũa cho Nguyên và bảo:
- Cơm sang đấy chứ: Giò lụa này, giá xào thịt bò này, dưa kiệu này… Cậu em rể tôi đi nước ngoài luôn luôn, lại có thêm nghề phụ. Còn chúng ta, chắc chắc không mơ tưởng thường xuyên tới một bữa cơm như hôm nay… Trinh, cô xới cơm cho anh Nguyên trước đi.
Cô em đặt từng bát cơm nghi ngút khói trướ mặt mọi người càu nhàu:
- Mãi chẳng chịu lấy vợ đi. Mẹ kêu ca nhiều lắm đấy.
- À, cái khoản ấy thì chưa được.
Trung đáp, nửa như trả lời em, nửa như nói với Nguyên:
- Tôi rất sợ khi chìm tàu, người ta nói thế này: Tôi không muốn lam cái điều tồi tệ ấy, nhưng vì vợ con tôi… Tốt nhất là đừng móc thêm toa khi đầu máy chưa đủ sức gồng…
“Cậu có lý thật – Nguyên nghĩ – Có lẽ chính vì Linh va bé Hương Ly mà anh đã thoả hiệp nhanh chóng như thế… Một thân một mình với suất cơm tập thể và tích nước không bỏ chè đặt ở đầu giường, người ta dễ dàng bảo vệ ý tưởng của mình hơn…” Anh bỗng giận Linh và thương thân.
- Ăn đi, anh nghĩ ngợi gì thế?...
Trung hỏi, Nguyên lắc đầu. Ăn xong cơm, họ vội vã chia tay ngay. Trung trở lại toà án có việc hẹn đồng nghiệp. Còn Nguyên đến toà báo gặp tổng biên tập như anh đã tính:
- Cảm ơn Trung nhé, nhờ anh tôi đã tìm được niềm tin ở chính mình…
°
Dọc đường, một người đàn bà phấn son lộng lẫy gọi Nguyên. Anh dừng lại, định thần một lúc mới nhận ra bà Phương: Bà mặc đồ ký giả, uốn tóc cao sát gáy trông như một nhà báo ngoại quốc vừa đáp xuống sân bay Nội bài chiều qua. Anh nói:
- Cháu chào cô. Cô đi chơi phố ạ?
Bà giáo đáp:
- Không hẳn là dạo phố mà là đi chợ. Tôi vừa rẽ xuống thăm hai mẹ con cái Linh. Hương Ly đang ốm. Nó bảo tôi gọi anh xuống trường: Bà bảo bố cháu chơi một lúc thôi rồi về cũng được. Con bé khôn ghê khôn gớm. “Đúng là giọng nói của con gái mình…” Nguyên nghĩ. Anh chào bà cô rồi rẽ vào mộtc ơ quan gần đấy gọi điện thoại cho Tổng biên tập báo rằng anh có việc đột xuất chiều nay. Xong, Nguyên ghé qua tiệm bánh ngọt và hàng hoa quả mua những thứ quà Hương Ly vẫn thích. Những gói quà bao bởi nhiều loại giấy khác nhau chất đầy ngăn cặp lớn. Người đàn ông gắng gượng xếp lại cho chúng khỏi hư nát, những trái cây dễ làm bẹp gói bánh ga tô, những túi kẹo dễ làm tróc lớp kem phết trên mặt bánh trứng… Sống cũng khó khăn như xếp những thứ hàng quá khác biệt nhau trong một ngăn cặp chật hẹp như thế này. Làm sao bảo toàn được những ý tưởng cao thượng lẫn cuộc mưu sinh, làm sao gìn giữ được niềm tin thanh xuân giữa những chao đảo và trầm luân của đời thường. Làn khói mờ bốc lên từ khe sâu buổi sớm và ánh hoàng hôn trên các chóp nhà thành phố, tiếng chim rúi ran trong vòm lá và giọng điệu khả ố ta phải chấp nhận ngày ngày…
Nguyên xuống tới trường vào lúc một giờ trưa. Linh đã xuống văn phòng. Bé Hương Ly thiêm thiếp ngủ. Nhưng khi anh vừa ngồi xuống mép giường nó mở mắt, hoàn toàn tỉnh táo như cái đêm Linh trở về căn phòng của họ:
- Bố Nguyên.
Nguyên cúi xuống, áp má lên vầng trán hâm hấp nóng của đứa con:
- Mẹ co con uống thuốc gì?
- Mẹ cho con uống lá nhọ nồi, thuốc ngọt lắm nhưng làm đen bẩn hết cả khăn mặt lẫn khăn tay.
- Bố mua bánh cho con, cả kẹo nữa, con ăn gì?
- Không, con ăn cháo rồi, con cũng uống sữa rồi. Con chỉ muốn bố ngồi đây thôi.
Người đàn ông nuốt giọt nước mắt vào trong tim, ngắm nhìn gương mặt đứa con. Con bé cũng đăm đăm nhìn anh, vừa khôn ngoan vừa như dò xét:
- Bố Nguyên?
- Gì thế con?
- Sao mẹ không muốn ở nhà mình?
- Lớn lên con sẽ hiểu.
- Con thấy bố không làm mẹ đau, cũng không mắng mẹ.
- Người lớn không chỉ tức giận vì bị đánh hay bị mắng. Bao giờ con lớn, con sẽ biết.
Hương Ly ngừng lại, nhíu đôi mày tí xíu lại. Vầng trán đều đặn phơn phớt lông tơ của nó như ánh lên một thứ ánh sáng của rạng đông. Người đàn ông thấy tim nhói đau vì cái cử chỉ ấy, đứa con gái giống mẹ nó một cách đáng sợ. Anh quay mặt đi. Con bé bất giác thở dài, nó cựa mình rồi đặt bàn tay nóng bỏng lên tay bố:
- Bố Nguyên?
- Gì thế con?
- Bố yêu mẹ nhiều không?
- Nhiều.
- Con biết, bố yêu mẹ gần bằng con.
Nó đáp lại trịnh trọng và tiếp:
- Tại sao hàng xóm nhà mình hay nói xấu mẹ?
- Vì họ không hiểu gì về mẹ cả.
- Họ không tốt... Nhưng con không tin những điều họ nói đâu. Hàng xóm nhà mình giống như bạn Lan ở lớp mẫu giáo của con. Bạn ấy ăn trộm bánh của bạn Hùng nhưng lại nói với cô giáo là đã ném cho chim bồ câu ăn hết.
Nguyên phì cười:
- Sao con biết?
- Con nhìn thấy bạn ấy đem bánh ra sau tủ, đứng ăn.
- Con có nói cho cô biết không?
- Không.
- Tại sao?
- Vì bạn ấy sẽ thù và sẽ cấu con. Con chỉ nói riêng cho bố biết thôi.
Người đàn ông nhìn cặp môi đỏ như tô son của đứa con gái. Cả cặp môi tròn đầy nó cũng giống mẹ. Nhưng con bé đã khôn ngoan hơn mẹ nhiều lần. Nó đã biết thích ứng với đời sống ngay từ thuở thơ ấu. Nguyên không còn biết anh nên vui hay nên buồn vì điều ấy. Anh nhìn con và thấy sau gương mặt nó là gương mặt của Linh, thơ ngây hơn và khờ dại hơn. Một tín đồ cuồng nhiệt. Con người chỉ có thể trưởng thành khi xoá bỏ đi bản chất tín đồ ở trong lòng mình. Căn phòng thảm hại này, đứa con trên chiếc giường cá nhân ọp ẹp, cái xoong nhỏ xíu đặt trên chiếc bếp dầu rẻ tiền kia, cảnh chia lìa của gia đình họ... Anh không còn giận mà bỗng thương Linh như thương một đứa con gái nhỏ khác của mình, một phần hoá thân của chính anh trong những ngày trai trẻ, ngọn lửa nguyên thuỷ của niềm tin xưa cũ, ngọn gió phiêu diêu thổi qua vòm trời của các giảng đường...
Phòng làm việc của tổng biên tập không rộng lắm nhưng cô thư kí khéo trang trí nên thoáng và tao nhã. Một bàn lớn, bóng lộn với chiếc ghế cao chân bọc da êm ái. Hai chiếc ghế mây kê đối diện dành cho khách trắng tinh. Một tủ nhỏ đựng tài liệu trên đặt bình hoa bằng thuỷ tinh mờ. Một hàn thử biểu có quả táo mạ vàng gắn bên trên treo vào cánh tủ. Và, duy nhất, một bức tranh thuỷ mạc trên tường.
Trước đây, Nguyên thích căn phòng này. Mỗi lần làm việc với tổng biên tập, anh đắm mình vào bầu không gian nhẹ nhàng yên tĩnh. Nhưng hôm nay, cảm giác quen thuộc ấy bỗng mất đi. Người đàn ông tựa lưng vào ghế, đưa mắt nhìn mọi vật, từ bức tranh thủy mạc tới chiếc hàn thử biểu, thấy chúng xa lạ như từ một thế giới nào đó du nhập về. Tổng biên tập không nhìn Nguyên, ông đang loay hoay lục tìm gì đó trong chiếc cặp da đen. Lát sau, ông rút ra bao thuốc 555 và gọi nho khô bọc giấy thiếc:
- Đây là quả của cậu.
Ông nói với vẻ xuê xoa : - Mình không còn chút thời gian trống nào, không thể tìm được thứ gì khá hơn.
Nguyên đáp :
- Anh bận tâm làm gì ? Xưa nay tôi vẫn quen hút thuốc rẻ tiền.
Tổng biên tập im lặng. Ông bóc gói nho khô, đổ ra đĩa :
- Mời cậu.
- Cám ơn anh.
- Mọi chuyện ở nhà suôn xẻ chứ ?
- Vâng, không có gì đáng phàn nàn…
Nguyên đáp, với cảm giác hơi khó chịu. Ông ta vờ vĩnh, mọi chuyện thư kí toà sạn đã báo cáo đầy đủ rồi. Tại sao cứ phải loanh quanh ?...
Tổng biên tập nói :
- Ở các nước tư bản – Ông châm thuốc cho Nguyên- Ở các nước ấy, hệ thống tư tưởng và các quan điểm xã hội của họ hoàn toàn khác biệt chúng ta, nhưng phải thừa nhận rằng riêng về làm nghề báo, họ thật thông minh và tinh nhạy.
- Vâng.
- Cũng không phải chỉ riêng nghề làm báo, tất cả các nghề nghiệp khác cũng dựa trên nguyên tắc tối cao là sự hữu hiệu của các cá nhân trong hệ thống công việc. Người ta không công nhận con người bằng các mối quan hệ, các điều kiện ưu tiện sẵn có mà chỉ dựa trên chân tài của họ. Con trai của một tổng giám đốc ngân hàng Nhật trước khi làm trợ lý cho cha, phải đoạt được hai bằng tiến sĩ kinh tế học và luật học, sau đó còn phải qua bảy năm thực tập tại các loại ngân hàng cơ sở để nắm vững thực tiễn và kiểm nghiệm lại toàn bộ kiến thức.
- Vâng.
- Cậu thấy không, mỗi cá nhân được lựa chọn như vậy sẽ tồn tại độc lập với chính khả năng thực có của anh ta. Và kếu cấu của xã hội thờ thế sẽ lành mạnh. Hình như đã có lần tôi nói với cậu về vấn đề này ?
- Vâng, tôi nhớ, tôi có nhớ…
Nguyên gật đầu. Lòng anh tràn ngập nỗi buồn : Ông ta cứ vòng vo mãi. Bao giờ thì câu chuyện chính bắt đầu đây ?... Anh nhìn đôi tay mở màng của tổng biên tập, những nếp nhăn rung rung trên đôi mí mắt đã bắt đầu sệ mỡ. Dung nhan của sự viên mãn và tuổi già, cái lãnh địa mà lòng quả cảm và ý chí tồn tại độc lập của từng cá nhân bị vùi lấp dưới tầng dày của tháng năm mệt mỏi. Bóng chiều âm hiểm lướt qua vườn cây thời gian…
- A.. A… a… a
Tổng biên tập bỗng buông tiếng thở dài, lắc lắc mái tóc:
- Thế đấy, thế đấy… ở nước ta mọi sự khó khăn thật…
Nguyên chợt thấy tức thở, anh không thể chịu đựng thêm cái không khí giả tạo mà thường ngày anh ta đã coi như thói đời và đặt ra ngoài sự quan tâm của mình. Không mào đầu, anh nói:
- Ngày lên đường, anh đã nhờ thường trực chuyển cho tôi lá thư.
- Phải, phải… à có…
Tổng biên tập đáp, hơi bối rối vì thái độ đường đột của Nguyên. Ông ta vội rít một hơi htuốc dài rồi ngửa mặt lên nhả khói. Nguyên nói:
- Tôi biết rằng đám người chạy chọt cho tên Hoà đã chờ anh ngay tại chân cầu thang nhà riêng, khi anh vừa từ sân bay trở về. Và tôi cũng biết rằng họ còn chạy chọt, săn tìm cứu cánh ở nhiều nơi khác.
- Ư hừ…
Tổng biên tập phát ra một tiếng hừm hừm khẽ trong họng, chẳng ra thú nhận cũng chẳng ra đồng tình. Nguyên nhìn gương mặt có vẻ như thờ ơ nhưng lại bối rối của vị cán bộ lãnh đạo mình. Chợt, anh hỏi:
- Tại sao anh lại giao phó việc ấy cho tôi?
- Hả?
Tổng biên tập phác một cử chỉ tỏ ý ngạc nhiên.
- Tại sao không phải Tâm hoặc Phúc hoặc Trọng mà lại là tôi?
- Chính tớ mới cần hỏi vì sao cậu hỏi điều đó?... Thật quá bạc bẽo với quan hệ của chúng ta.
- Anh tin cậy ở tôi?
- Điều đó có lâu rồi.
- Xưa nay, tôi chưa làm việc gì ngoài ý muốn của anh và khiến anh phải phiền lòng. Xưa nay tôi vẫn là cánh tay phải, là kẻ tâm phúc của anh như người ta thường bàn tán… Bởi thế, lần nay anh mới giao cho tôi một công việc trọng đại và liên quan mật thiết tới bản thân.
- Không, không phải với bản thân tôi mà với một người bạn mà tôi coi như chính bản thân tôi… Thôi thì, nói đằng nào cũng được… Nhưng chính thực là…
Tổng biên tập đáp, nhìn Nguyên e dè. Thái đọ của anh hôm nay có cái gì đó khác biệt khiến ông khó đoán biết. Nguyên ngừng rít thuốc, anh giơ mẩu thuốc đang cháy, đăm đăm nhìn vào đốm lửa phủ tàn tro đang ngún dần điếu thuốc, dường như muốn tìm trong đó một ý tưởng chưa hình thành. Hồi lâu, anh ngẩng lên, cất tiếng chậm rãi:
- Cảm ơn lòng tin cậy của anh. Nhưng tôi muốn hỏi anh một điều: Có bao giờ anh nghĩ rằng lòng tin cậy của cá nhân này đem lại cho ta những giá trị và lòng tin cậy của cá nhân khác thiêu đốt danh dự đẩy ta xuống tình thế của kẻ nô bộc hay không?
Tổng biên tập cớp mắt, rõ ràng ông bối rối. Nhưng tuổi tác và sự từng trải giúp ông tinh không. Ông lắc đầu, mỉm cười vui vẻ:
- Này, cậu bắt đầu rắc rối rồi đấy nhé. Khi tinh thần không minh mẫn người ta thường đẻ ra những ý nghĩ bất thường. Phải chăng vì cậu sống một mình lâu quá?
Nguyên không cười, anh nói:
- Không có nguyên nhân tâm sinh lý ở đây. Và cũng không phải là một câu chuyện bông phèng.
Tổng biên tập không cười nữa. Mặt nóng lên, ông khó chịu rút khăn tay lau trán dù chưa có giọt mồ hôi nào. Rồi, ông im lặng chờ đợi. Nguyên tiếp:
- Anh có biết gì về tay Hoà ấy, người bạn cũ của anh?
- Bạn mình - Tổng biên tập đáp - Hồi chúng tớ còn trai trẻ, ở trên Sơn La ấy…
- Tôi xin phép được ngắt lời anh. Tôi muốn hỏi những sự kiện quan trọng về nhân vật ấy?
Tổng biên tập chớp mắt, làn da mỡ màng trên mi lại khẽ rung rung. Cố trấn áp nỗi ngượng ngùng, ông cúi xuống gạt tàn thuốc. Nguyên không nhìn ông, anh nói giọng đều đều:
- Tôi chắc rằng anh không thể không biết cái tội ác ghê tởm ấy. Nếu như nó xảy ra ở một kẻ xa lạ: gã X hoặc tên Y chẳng hạn, anh thấy thế nào?...
Tổng biên tập nhăn mặt đáp:
- Tất nhiên, đó là một lỗi lầm ghê gớm, khủng khiếp.
- Nhưng vì nó đã xảy ra với người bạn của anh, nên anh không thấy ghê tởm và khủng khiếp nữa. Vì lẽ đó, tới bây giờ anh mới yêu cầu tôi phải bênh vực hắn ta?
Tổng biên tập thở dài hạ giọng:
- Cậu tính tôi có thể làm gì khác được lúc này?... Sống ở đời, không ai có thể cạn tình cạn nghĩa, nhất là với những người thân từ thuở hàn vi. Tình nghĩa nhiều khi cũng trói buộc và làm khó dễ cho con người. Nhưng nếu hoàn toàn xoá bỏ, nó sẽ gây cho ta một nỗi day dứt, băn khoăn không sao giải thích được. Vả chăng, có những nguyên lý tình cảm cũ kĩ nhưng luôn luôn chính xác. Các cụ đã nói rồi: yêu nhau …. Cũng tròn, ghét nhau đến quả bồ hòn cũng vuông…
Nguyên cười:
- Ngày xưa, tôi nghe bố tôi kể chuyện làng cụ khá nhiều: Nào họ hàng nội ngoại, nào chuyện cưới xin, tăng gia, chống cướp, mưu sinh, chống thuế… Cụ kể rằng: Trong cả tổng, người làng tôi nổi tiếng về tinh thần hiệp hội: Hễ có một người trong làng bị kẻ khác xử đánh, bất kể phải trái, cả làng xông vào bênh. Có lần, một tên lưu manh ở làng tôi sang thôn bên cạnh cướp trâu của một ông già mới lập trại. Ông lão biết, cầm đòn gánh rượt đuổi theo. Tên ăn cướp kêu la cầu cứu, người làng tôi đi chợ phiên và cấy lúa thuê quanh đấy nghe được. Họ ập tới, cứ đòn càn và gộc tre đánh ông lão gẫy xương lưng, lòi một bên mắt ra… Hồi ấy, trí não non nớt của tôi đã ghi nhận câu chuyện như một giấc mơ khủng khiếp và quái đản. Tôi hồ nghi. Nhưng đến hôm nay, tôi hoàn toàn tin đó là sự thật.
Nguyên dừng lời. Điếu thuốc đã cháy hết. Anh ném mẩu đót lọc vào chiếc bình gạt tàn, nói tiếp:
- Ở một nước có nền kinh tế thấp kém, óc bè phái địa phương là sản phẩm tất nhiên. Nhưng với anh, tôi hơi lạ. Ít nhiều, chúng ta cũng là trí thức. Và với công tác này…
Tổng biên tập thở dài luồn những ngón tay vào tóc:
- Cậu hãy đặt tình cảnh của cậu vào mình: Một người bạn đã chia sẽ những ngày gian nan nhất. Viên thuốc lào cũng chia và củ sắn nướng cũng chia. Tố Hữu có câu thơ hay lắm về cảnh ấy… Tớ nhớ ra rồi:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng…
Cái nghĩa lớn của bậc quân tử là không được quên thuở hàn vi. Năm bốn chín, mùa đông cắt ruột. Hồi ấy, tớ sốt rét trọc cả đầu, nhìn thấy cơm thèm rỏ dãi mà suốt tháng chỉ có cháo ngô với sắn luộc. Tay Hoà đã chim được một cô hàng xén chuyên ra vào vùng địch hậu. Cô nàng đã đem lên hàng tay nải thuốc tây, rồi bánh quy hảo hạng, rồi sữa con chim… Không có cô ta cung phụng, chắc mình xanh cỏ lâu rồi… Chúng tớ đã sống như hai ông hoàng giữa rừng núi, chao ơi i i…
Ông lại buông thêm một tiếng thở dài:
- Khốn khổ thật… Chẳng hiểu vì sao cậu ấy lại giở chứng ra như thế?... Đã một lần trước rồi…
Nguyên mỉm cười:
- Lần trước, chắc hẳn anh đã góp một tay trong đám người cứu gỡ án tù cho hắn. Và lần này, chắc anh sẽ đưa hắn từ một xí nghiệp vận tải sang làm giám đốc nông trường quốc doanh. Và sau đó, nếu hắn mắc sai lầm lần thứ ba, hắn sẽ được chuyển sang làm chủ nhiệm một công ty chăn nuôi gia súc?...
Tổng biên tập quay đi, lảng tránh cái nhìn giễu cợt của Nguyên. Nguyên thoáng thương hại ông, nhưng anh tiếp tục nói:
- Tôi cũng hiểu rằng con người cần phải có tình cảm. Việc anh thương nhớ quá khứ của anh và hắn là chuyện bình thường, nhưng việc anh gỡ án tù cho hắn vì tình thương ấy là chuyện bất thường nếu không muốn nói rằng phản cách mạng. Chính nhờ lòng thương của các anh mà hắn tiếp tục gây tội ác với mười bảy người con gái nữa tiếp theo đứa bé chín tuổi kia. Nếu lập đẳng thức, người ta có thể đặt dấu bằng giữa tình thương của các anh với hắn và tội ác của các anh với mười tám nhân mạng kia… Không, đó không phải là tình thương thực sự. Đó chính thực là biểu hiện của lòng vị kỉ, lối ve vuốt lòng tự ái của bản thân một cách màu mè, một cách tự tán tụng quyền uy cá nhân dưới chiêu thức lòng nhân nghĩa, thói tàn bạo và coi khinh quần chúng được bọc nhung lụa, được trát phấn tô son…
Nguyên định ngừng lời, theo thói quen tự kìm chế của anh. Nhưng những ý tưởng sục sôi trong óc não đã tuôn ra ngoài như thác lũ:
- Ngạn ngữ xưa nói: Nhân đạo với chó sói là tàn ác với bầy cừu… Có phải một phát hiện mới mẻ đâu? Nhưng điều đáng kinh sợ nhất là người ta hiểu biết một đắng mà làm một nẻo. Người ta nhìn nhận được chân lý nhưng lại hành động theo những thúc hối riêng tư. Phải chăng các anh cố gắng o bế, cứu gỡ cho tay Hoà chỉ vì mối thâm tình và các lưu niệm trong quá khứ?... Không, tôi không tin rằng, kẻ đã dám xây gần như trong cùng một lúc năm toàn nhà đồ sộ không phải kẻ ngây dại trả những món nợ ân nghĩa bằng nước bọt suông.
Tổng biên tập nhìn Nguyên, đáp gần như thầm thì:
- Với những người khác, điều đó có. Nhưng với mình thì không… Nếu có, cũng chỉ là tượng trưng, hoàn toàn không đáng kể… xin cậu tin mình…
Và Nguyên trong cơn bột phát những dồn nén, không nhìn người đối diện, tiếp tục nói như đối thoại với bản thân:
- Con người có thể quen với sự nhẫn nhịn, nhưng con người cũng có khả năng xoá bỏ sự nhẫn nhịn ấy để đấu tranh. Xưa nay, tôi được anh tin cậy vì tôi hoàn toàn làm những điều anh muốn. Nhưng điều ấy, tôi đã đặt ngòai sự quan tâm thầm kín của tôi vì coi chúng như những phương tiện sống mà ta bắt buộc phải chấp thuận. Giống như người ta cần chiếc xe để vượt qua một quãng đường, cần tới chiếc gầu để múc nước dưới giếng sâu… Bây giờ, tôi biết sự chấp thuận ấy đẩy tôi vào tình thế kẻ nô bộc. Lòng tin cậy của anh tước bỏ danh dự cá nhân tôi. Lần này, tôi từ chối. Hơn sự từ chối đó, tôi và một cán bộ pháp lý trẻ bên toà án đã tập hợp tư liệu về hai vụ án cách nhau chín năm của tên Hoà. Chúng tôi cần phải công bố ý kiến của chúng tôi…
Nguyên đứng lên, không bắt tay tổng biên tập, bỏ ra ngoài. Anh không nhìn gương mặt sửng sốt của người lãnh đạo mình, nhưng anh biết rằng ông ta đang hoang mang và ngờ vực. Còn anh, run lên vì mặc cảm buồn bã, anh bước qua khuon viên trước cửa toà báo, rẽ ra phố và đi như kẻ mộng du… Anh vừa thoát xác, anh vừa trồi lên ngọn triều của sự thoả hiệp hèn mọn, ngọn triều hung bạo đã nhấn chìm biết bao con người trong cuộc tồn sinh. Lẽ ra, anh có thể nói những lời này từ năm, mười năm trước?... Lẽ ra, đó chỉ là một trạng thái ứng xử tất nhiên của người có ý thức đầy đủ về nhân cách của mình?... Vậy mà đã phải có một khoảng thời gian dài chờ đợi cho hoa nở, cho trái chín, cho cái cần có của con người đủ cứng cáp trên đôi vai họ… Trời ơi, để tìm được chính con người mình, đau đớn làm sao?...
°
Đêm yên tĩnh. Ánh đèn mờ nhạt rọi lên những dây vạn niên thanh khiến chúng trở nên sóng động và bí ẩn. Trần Phương đăm đăm nhìn đám dây leo, cố lúc tìm một hình ảnh mà chính ông cũng hình dung được những đường nét cong queo, mờ ảo kia sao giống lối đi của đời người? Chúng cũng đường đột, mù mờ không dò tìm được trước… Đã tròn tháng nay ông không gặp Linh.
Một vườn hoa táo trắng. Tràn trề hoa trắng… Phía sau đó là Linh. Người đàn bà ấy đã thức tỉnh trong ông tình yêu đã thui chột từ cuộc hôn nhân vội vã hơn hai mươi năm trước và đã xoá bỏ thói quen giả dối chế ngự ông rất lâu trong các cuộc phiêu lưu tình ái với đám đàn bà háo danh – cái thói quen của người làm tình trước khi yêu và thích nói những lời đường mật không thẹn thùng. Cái chất học đường ở trong Linh khiến ông si mê và trọng nể cô thật sự. Tính khiêm nhường và trung thực của cô buộc ông hoà nhập vào nó… Phải, ông đã từng muốn quỳ dưới chân cô để dâng tặng tuổi trẻ cùng những vườn táo trắng. Ông đã từng cuồng dại vì một cuộc hò hẹn, vì một khoảnh khắc đợi chờ, hệt như chàng trai mười tám tuổi.
Trần Phương xoay người, ông thấy mình quá trống trải. Cái trí nhớ tinh xảo và cực kì chính xác giờ đây đương nồng thắm với Linh, tấm thân tươi trẻ và quyến rũ, mái tóc mềm óng ả và ánh sáng êm dịu diữa hai làn mi tựa ánh nắng lọc qua vòm cây xanh ngắt. Ông thấy vết chàm bằng hạt ngô phía sau bả vai trái và mụn ruồi nhỏ nơi cườm tay thon thả của cô. Ông ngửi thấy mùi xà phòng Hoa Táo trong tóc cô và tưởng như nhìn được những giọt mồ hôi li ti đọng trên cánh mũi cô những ngày oi nóng… Tất thảy dày vò ông điên dại. Trần Phương tự giật chòm tóc hai bên thái dương cho thần kinh đỡ căng thẳng. Ông tự nhủ:
- Thôi đi, quên đi những chuyện vặt của đời người. Tình yêu, đó chỉ là bữa ăn thêm đối với người đàn ông.
Đó là tiếng nói của trí khôn, nhưng trái tim ông vẫn không ngừng gào thét. Tiếng gào của nó lấn át tiếng nói tỉnh táo kia. Máu huyết ông đập bừng bừng trong mỗi thớ thịt, trong từng tế bào óc não. Cơn cào cấu dấy lên những hồi ức yêu đương mỗi giờ khắc mỗi tăng trưởng và khiến ông quằn quại như cây lau trong bão. Và không kìm mình được, ông đến trường tìm Linh.
Ông nói với ông già gác trường.
- Bác làm ơn cho tôi gặp cô giáo Linh.
Ông thường trực nhìn nhạc sĩ, ngờ ngợ như a đó đã từng quen. Ông cố lục tìm trong trí nhớ hình ảnh người đàn ông cao lớn có bộ râu quai nón tuyệt đẹp. Nhưng ông đành thất vọng vì bữa nay Trần Phương không mặc sơmi carô nâu mà bận chiếc áo da ngoại đắt tiền, kiểu áo trẻ trung của các chàng trai đang thời săn đuổi tình ái. Ông già đáp:
- Xin mời bác vào.
Nhạc sĩ đáp:
- Bác giúp cho, tôi có việc phải đi ngay. Chỉ cần nhắn cô Linh tin tức gia đình.
- Vâng.
Ông già gật đầu, vừa đưa mắt sục tìm đám học trò nối đuôi nhau qua cửa như những hành khách hàng không nối đuôi nhau qua trạm kiểm soát của hải quan.
- Này, này… Vân Thanh lại bác nhờ tí việc.
Ông gọi giật giọng. Một cô bé mặc măngtô đỏ, khuy đen quay lại.
- Bác bảo gì cháu ạ?
- Gọi cô giáo Linh ra cổng có người nhắn tin nhà.
Con bé đưa cặp mắt đen hạt nhãn liếc qua Trần Phương, nhoẻn cười rồi quay lưng chạy vào sân. Ông già thường trực nói với theo:
- Nhanh lên nhé…
Giọng ông thật oai vệ, rõ ràng tụi học trò kính nể và sợ hãi ông. Cô bé bận măng tô đỏ đã vượt qua sân, đi về phía khu nhà hai tầng có kẻ chữ: Khu C, rồi khuất lấp sau một cánh cửa.
Chừng năm phút sau, Linh đi ra. Trần Phương bất giác run rẩy:
- Bác ơi, bác làm ơn nói giùm cô Linh sang bên kia – Ông giơ tay chỉ - Tôi gửi xe bên đó.
Nói đoạn, không chờ ông già đáp lời, nhạc sĩ hối hả băng qua đường, ông dựng lại chiếc xe, nhìn cô chờ đợi. Cô đã tới phòng thường trực nghe ông già gác cổng nói gì đó rồi ngoài nhìn ra ngoài đường. Cô sững lại giây lát, rồi thong thả bước sang. Tim Trần Phương đập lồng lên trong ngực. Nó đập dồn mãi cho tới lúc cô đứng trước mặt ông, gương mặt cô chỉ còn cách mặt ông vài gang tay và những món tóc nhỏ bên vai cô, gió đánh vương sang tay áo rét của ông:
- Em…
Ông cất tiếng kêu nghẹn ngào. Một cơn rung động lan truyền khắp thân thể người đàn bà. Mặt cô lạnh lẽo, nhưng ánh sáng trong đôi mắt tối sầm đi. Lúc ấy, tình yêu thiêu đốt Trần Phương khiến ông gần như không còn làm chủ được mình. Ông giơ tay định ôm choàng lấy cô nhưng sực nhớ tình cảnh hiện tại, ông lại rụt tay về, buông thõng xuống đu đưa như khúc gỗ:
- Linh…
Cô ngước nhìn ông, đáp với giọng khàn khàn xa lạ:
- Đi đi thôi, đựng đây chẳng tiện chút nào…
Cô quay lưng, đi dọc hè phố, và ông dắt xe lẽo đẽo theo sau. Họ im lặng, và cứ im lặng như thế đi tới cuối con đường. Nơi đây là ngoại ô phía đông của thành phố. Các dãy nhà trở nên lộn xộn, đỏm dáng. Các quán ăn dựng san sát bên nhau để phục vụ các đoàn xe vận tải, quán nào quán ấy tuềnh toàng bụi bám như mọi quán ăn thường gặp ở tỉnh lỵ. Ở ngã ba, từng đoàn xe chở cát, chở vôi đang đỗ và cánh lái xe ăn nhậu ầm ĩ trong các quán gần kề.
- Em cho anh nói một lời.
Sau rốt, Trần Phương cất tiếng nài nỉ Linh, khi họ dừng lại trước tấm biển: Chú ý tốc độ. Người đàn bà không quay lại, đáp:
- Không có gì để nói nữa.
Nhưng cô vẫn đứng yên, nhìn cánh đồng ngoại ô trải màu xanh yếu mềm của lúa non tới tận chân trời. Gió thổi căn cắt. Mọi vật như bé nhỏ và côi cút trong cơn băng giá: vài quán cắt tóc treo biển gỗ, dăm ba hàng bán nước chè, mấy ngôi nhà cũ, ngói xạm đen và những dây bìm bìm nặng trĩu bụi bám… Xa hơn nữa, một hàng cây cong cong nghiêng xuống trên đường… Người đàn bà bỗng thấy hết nỗi cô đơn của mình trong khung cảnh ấy. Cô đã lìa khỏi sợi dây an toàn của đời sống, giờ đây đứng chơ vơ trên mặt đất, và con đường dẫn tới hạnh phúc đã chìm trong vực thẳm mù sương.
- Anh biết anh đã cư xử như một tên đê mạt, anh không còn xứng đáng nhìn em, nhưng anh xin em cho anh nói một lời…
Ông ta nói những gì thế nhỉ?... Những sợi dây an toàn đã bị cắt lìa. Giờ đây, chỉ có ông ta còn đứng bên cạnh cô trên bờ vực…
- Anh biết anh không đủ tư cách để nhìn vào mặt em, nhưng dù sao, em cũng cho anh được nói một lời…
Ông ta vẫn nói, vẫn van nài khổ sở. Kẻ nào biết được tội lỗi của y, y đã xoá hết nửa phần tội lỗi, có phải câu này trong tử điển châm ngôn không?... Ánh mắt ông ta rối loạn và đau đớn quá. Xét cho cùng, ông ta cũng chẳng sung sướng gì…
Linh không trả lời, tiếp tục bước. Trần Phương lẽo đẽo dắt xe theo. Chiếc xe quá nặng so với quãng đường vừa đi, người đàn ông thở hào hển. Tự dưng, Linh mủi lòng, cô rẽ vào quán nước cuối phố. Từ đây không còn nhà nữa, chỉ còn đường trơ trụi với cánh đồng hai bên. Nhạc sĩ dừng xe trước quán, e dè bước theo Linh. Mọi cử chỉ của ông đều chứa đựng nỗi tủi hổ của một kẻ hối lỗi.
Bà lão chủ quán rót nước vào hai chiếc chén cáu những cặn chè đặt trước mặt họ rồi co chân lên xuýt xoa thọc hai tay vào nách, gà gật, nhắm mắt lại. Trần Phương chống khuỷu tay lên mặt bàn nhớp nháp ngước mắt nhìn Linh:
- Em có thể sỉ nhục anh, chửi rủa anh, căm thù anh… Em có thể nhổ vào mặt anh vì khinh bỉ… Em có quyền hành đồng như thế.
Linh im lặng.
Ông hạ giọng gần như thì thầm:
- Nhưng anh biết em sẽ không bao giờ làm thế, và vì vậy anh càng bị dày vò ghê gớm hơn…
Mái tóc rũ xuống trán, nhạc sĩ lùa những ngón tay chải ngược lên. Mắt ông u ám và những thớ thịt trên gò má ông khẽ giật như người mắc chứng kinh phong. Một nỗi tuyệt vọng nặng nề, chìm đắm khiến gương mặt ông trở nên yếu mềm và bí ẩn như gương mặt một tu sĩ.
- Em đã cho anh được nói… Giờ xin em kết tội anh…
Trần Phương cúi đầu, mái tóc xoã xuống. Gương mặt ông khuất lấp sau mái tóc đen nhánh, tuyệt vọng. Những ngón tay mềm mại của ông khiến Linh hồi tưởng những ve vuốt êm ái trong kí ức cô: - Giữa kẻ phản bội lý tưởng chung và kẻ phản bội cá nhân mình, mình sẽ tha thứ cho ai?.. Giữa một kẻ phạm tội có ý thức và một người phạm tội vì hoàn cảnh trói buộc, ai đáng thương và ai đáng kết tội… Dẫu sao, Trần Phương cũng là thần tượng của đám thanh niên đương đại. Vĩ nhân nào cũng có khuyết tật và người ta phải tha thứ cho các khuyết tật ấy bởi những phẩm chất lớn lao hơn…
Trời rét. Cánh đồng trải nỗi hiu quạnh tới chân trời. Hàng cây cong cong nghiêng xuống trên con đường côi cút. Thi thoảng, một đoàn xe tải nhoáng qua.
Linh hiểu rằng, ngoại trừ những lý lẽ rạch ròi của lý trí, tiếng kêu mù loà của trái tim cũng sẽ buộc cô tha thứ cho Trần Phưong và trở lại với ông. Cô rơi vào vực thẳm mù sương chỉ duy nhất sợi dây leo mỏng manh là tình yêu của ông. Người đàn bà lại trào nước mắt. Cô lặng lẽ lau những giọt lệ nóng bỏng trước khi chúng rơi xuống.
Chủ nhật, Trần Phương lại chờ cô ở ngã ba đường vứi tất cả nỗi bồn chồn sôi sục của một người đàn ông đang ở tuổi hồi xuân.
°
Nguyên đã đứng gần một giờ đồng hồ. Trời mưa phùn, những đám lá trúc dính bết xuống sân. Gió thổi mãi, không ngừng. Anh đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc kia. Những giọt mưa từ vòm lá trúc nhỏ tí tách. Thi thoảng, một đợt gió lùa vào phòng buốt như kim châm. Ông già thường trực ngồi thu lu trên ghế, hai tay ủ trong vạt áo bông:
- Trời đất này chỉ trẻ con là sướng. Chui vào chăn bông ngủ suốt ngày cũng chẳng ai kêu ca.
- Vâng – Nguyên cười – Nhưng những đứa trẻ thường lại ao ước được trở thành người có chủ quyền. Hồi bé cháu vãn nghĩ: Người lớn sướng ghế, muốn gì được nấy…
- Hà hà… Chuyện đời cũng vòng vo thật.
Ông lão xuýt xoa rồi bảo Nguyên:
- Sao không về nhà mà ngồi? Trời đất này tội gì anh đứng đây cho khổ?...
- Cháu có việc cần bác ạ.
Nguyên đáp. Anh liếc đồng hồ và hỏi:
- Bác có chắc rằng cuộc họp sẽ kết thúc vào sáng nay không?
Ông lão gật đầu:
- Chắc. Mới có mười giờ hai mươi. Họp kiểu này ít nhất cũng mười một rưỡi mới kết thúc. Tôi đã bảo rồi, anh đến sớm làm gì?
- Cháu chờ cũng được.
Nguyên trả lời. Sáng nay, anh đã dỗ dành bé Hương Ly cho nó chịu ở nhà với ông bà nội. Xa bố lâu ngày, con bé cứ quấn chặt lấy anh. Suốt đêm, nó ôm ghì lấy cô Nguyên mà ngủ. Đôi lúc, nó lùa tay vào ngực anh quờ quạng:
- Mẹ Linh ơi, cho Hương Ly sờ ti một tí nào.
Nguyên gỡ tay con, những mũi gai vô hình cào xé tìm gan. Trước đây, cũng trên chiếc giường này, đứa con nằm giữa cặp vợ chồng trẻ. Nó vừa tận hưởng trọn vẹn sự chiều chuộng của hai người, vừa ban phát niềm vui cho họ. Khi tiếng cười của nó cất lên có hai giọng cười khác hoà điệu. Mỗi cử chỉ ngộ nghĩnh của nó, có hai cặp mắt rõi nhìn. Giờ đây, nó luôn luôn chịu đựng cảnh sống thiếu hụt, què quặt trong tình cảm. Giờ đây… giờ đây…Nguyên không ngủ được, anh bật đèn ngồi vào bàn đọc sách. Nhưng cách con chữ vô hồn giống nư những dấu hiệu tối tăm, không ánh sáng, nhảy nhót trước mắt anh. Khi Nguyên gấp sách, anhlại thấy Linh đi lại trong phòng. Cốc chén kêu lanh canh dưới tay cô, những viên đá hoa bóng lộn in dáng hình cô, các tấm cửa kính và không gian rung lên trong những chuỗi cười lanh lảnh vô tư lự... Và cô quay lại nhìn anh, đôi mắt nâu lộng lẫy đọng đầy ánh sáng của bầu trời… Linh có đẹp đến thế hay không. Nhiều lần Nguyên tự hỏi. Anh đã gặp ngàn vạn người con gái và trong số đó đâu có ít người xinh đẹp. Những diễn viên lộng lẫy diêm dúa, những phụ nữ làm công tác nghiên cứu khoa học nhạy cảm và thông minh tới mức ngạc nhiên, những thiếu nữ lao động mạnh khoẻ hồn nhiên như trái chín… Những vẻ đẹp khác biệt nhau, anh đã từng nhận biết. Nhưng anh vẫn chỉ yêu cô. Phải chăng dòng máu chảy trong anh là dòng máu của một tín đồ trung thành với tôn giáo? Phải chăng, trong đáy sâu tâm hồn anh có một tên nô lệ bị trói chặt vào cây cột đá vĩnh cửu của nếp cảm xúc và niềm ngưỡng vọng hình thành từ buổi ban đầu?... Ngần ấy sự dò tìm không đủ cho anh quên được Linh và gia nhập vào một tình yêu khác? Từ ngày rời bỏ căn phòng của cô Ngọc Minh trở về, tình yêu cũ sống dậy với sức mạnh gấp trăm lần. Cuộc chung đụng ngắn ngủi kia giống như một lầ mạo hiểm trên mặt biển làm cho đứa con vùng đồng bằng bám chặt hơn vào mảnh đất liền. Anh đã không nguôi nhớ Linh, mong mỏi ngày cô trở lại với mình… Cho tới buổi chiều Kim Anh đưa bé Hương Ly về và kể cho anh nghe mọi chuyện…
Ông già thường trực thấy Nguyên đi lại mãi liền bảo;
- Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi.
Nguyên lắc đầu:
- Cảm ơn bác, cháu đứng cho đỡ rét.
Anh rút điếu thuốc khác, châm lửa. Mấy đầu ngón tay tê cứng lại. Từ lúc đưa con gái về gửi ông bà nội tới giờ, Nguyên đã hút gần hết một bao thuốc. Miệng đắng, anh không còn thấy cảm giác nào khác hơn cảm giác tê dại đang làm đầu lưỡi anh cứng ngắc. Tuy nhiên óc não anh lại tỉnh. Thậm chí nó lạnh lẽo, bình thản hơn mức độ anh mong. Nguyên rít được nửa điếu thuốc, có tiếng xe máy vọng tới. Rồi Trọng xuất hiện trên chiếc xe máy quen thuộc với tấm nilông choàng qua hai vai. Nước mưa chảy thành dòng từ tóc anh nhỏ xuống:
- Thế nào, sao lâu vậy?
Trọng cất tiếng hỏi.
- Chưa tan họp.
Nguyên trả lời.
- Có rét lắm không? Hay ta vào quán kiếm chén càphê nóng đã?
Trọng nói.
- Thôi – Nguên xua tay chối từ - Anh đi đi, mọi chuyện để mặc tôi. Chìa khoá đâu?
- Khoá đây.
Trọng móc túi áo ngực lấy chùm chìa khoá buộc cẩn thận vào chiếc mỏ neo nhựa đưa cho Nguyên: Các cháu đi hết rồi, còn cô Cầm hết chiều mới về. Giờ tôi đến toà báo.
- Như vậy là ổn – Nguyên đáp - Cảm ơn cậu, cứ đi đi và đừng lo ngại gì cho tôi.
Anh chàng hộ pháp ngước đôi mắt cận nhìn bạn với nỗi ái ngại rồi phóng xe máy đi. Nguyên ngồi xuống ghế. Tiếp tục chờ đợi. Ba mươi lăm phút sau, cuộc họp kết thúc. Trần Phương cùng một nhóm người từ Hội nhạc sĩ bước ra. Họ vội vã vượt qua mảnh sân ướt lép nhép tới nhà để xe. Nguyên đi khỏi phòng thường trực. Anh đi rất nhanh nên đã bước vào nhà để xe trước Trần Phương:
- Chào anh.
Nguyên cất tiếng:
- Chắc hẳn anh biết tôi?
Trần Phương ngẩng lên, một thoáng run rẩy chạy qua đôi mắt đen.
- A, a… - Ông thốt tiếng kêu bối rối – A, vâng, chào anh.
Nguyên nói:
- Chúng ta có chuyện cần trao đổi.
Nhạc sĩ cúi xuống mở khoá xe:
- Vâng, vâng… nhưng rất tiếc hôm nay tôi bận. Anh để khi khác nhé.
- Không, anh đủ thời gian để nói chuyện ngày hôm nay. Và tôi yêu cầu anh ngay bây giờ.
Ánh mắt, vẻ mặt Nguyên đủ cho Trần Phương hiểu rằng ông không thể chối từ. Nhạc sĩ đứng ngẩn ra, chùm khoá xe còn cầm trong tay. Nguyên nói tiếp, giọng bình thản nhưng hàm chứa sức mạnh:
- Tốt nhất, anh hãy cư xử sao cho tôi có thể nói với anh những lời êm thấm.
Trần Phương đưa mắt nhìn quanh. Các nhạc sĩ khác đã dắt xe khỏi nhà chứa, hối hả đạp ra đường. Chiếc Moscovic trắng lướt qua sân. Không có ai chứng kiến cuộc gặp gỡ không mấy vui vẻ của ông. Chồng Phương Linh đang nhìn ông chờ đợi. Với gương mặt lạnh lùng và điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay, người đàn ông đó chứng tỏ rằng anh có thể đợi ông cả một thế kỷ ngay trong gian nhà xhứa xe này và sẽ buộc ông phải đối thoại. Trong thâm tâm, Trần Phương buông tiếng tặc lưỡi: “Thôi được, dù sao cũng chẳng ai biết đến chuyện này… May mắn là cuộc họp quá dài và thời tiết tồi tệ đến mức không ai còn muốn nhìn ngó đi đâu ngoài mong muốn về nhà thật nhanh…”
Ông bảo Nguyên:
- Được. Ta nói chuyện ở đâu bây giờ?... Tôi có một quán cà phê quen ở gần đây.
- Không cần – Nguyên đáp – Cách đây vài trăm mét sẽ có một căn phòng vắng vẻ thuận tiện cho cả anh lẫn tôi.
Nỗi sợ hãi vụt lướt qua mắt Trần Phương.
Nguyên mỉm cười:
- Không có gì nguy hiểm đâu, tôi không phải là thám tử.
Giọng nói anh giễu cợt pha lẫn niềm khinh thị, Nguyên đã biết nhiều người đàn ông ngoại tình, nhưng chưa ai nhát nhúa như ông nhạc sĩ danh tiếng này. Có lẽ, nếu không vì sự trói buộc của số phận, sẽ chẳng bao giờ anh tiếp xúc với Trần Phương và biết rõ những tì vết của ông ta.
- Xin mời anh đi theo tôi.
Nguyên đạp xe trước, Trần Phương cho xe máy nổ chầm chậm đi theo. Nhà trọng chỉ cáh đó chừng sáu trăm mét. Chỉ vài phút sau, họ đã lên hè. Nguyên rút khoá, mở ổ khoá đồng trước cửa và bảo Trần Phương.
- Anh có thể dựng xe tới sát khuôn cửa, gat chân chống. Rồi ông xoa hai bàn tay vì lạnh. Nguyên nói:
- Mời anh vào.
Nói xong, anh vào trước kéo ghế mời khách. Trần Phương đưa mắt liếc qua gian nhà. Ông thấy một khung cảnh bình thường, yên ả như nhiều khung cảnh của đời sống dư dật. Buồng thoáng và sạch, đồ đạc được lau chùi không vương hạt bụi, giường kiểu mới, tủ đứng, tủ bò, các loại tách chén óng ánh và một lũ búp bê ngồi trước gương. Trọng đã đặt sẵn phin pha cà phê, bình đường và phích nước sôi lên bàn. Nguyên pha càphê, khuấy đường thong thả và thận trọng. Trong khoảng thời gian đó anh thấy Trần Phương dao động, giữa nỗi sợ hãi và sự sĩ diện, giữa những phỏng đoán mù mờ và các ý nghĩ buông thả… dường như có một làn sóng u ám lợn gợn trên gương mặt tài tử của ông ta. Ông ta cố tỏ ra bình tĩnh, nhưng vô cùng lo âu, nhớn nhác.
“Ra con người lẫy lừng này cũng chỉ đến thế thôi – Anh nghĩ – Xưa nay, Trần Phương vẫn là thần tượng của đám thanh niên yêu nghệ thuật. Quanh ông ta, bao giờ cũng có những vệ tinh bay lượn. Đám người ấy đồn thổi tài ngăng của Trần Phương, về âm nhạc và hội hoạ… Không ai có thể chinh phục công chúng trẻ tuổi giỏi hơn ông, nếu ông xuất hiện trước họ. Khi ông ngồi hàng ghế danh dự đầu tiên, nét mặt ông lộ rõ vẻ chán chường, mệt mỏi và những nếp nhăn cao quý hằn trên vầng trán rộng. Lúc ông ngồi ở hàng ghế dưới hoặc trong góc tối nào đó, đôi mắt sáng ẩm ướt như hai vì sao sẽ khuất lấp dưới mái tóc đen, và gương mặt ông toát lên sắc thái ưu tư kiên nghị của bậc sĩ nhân suốt đời quên mình vì mối lo thiên hạ. Thành ra, lúc ông đắc thời, người ta nghĩ rằng ông là kẻ sĩ ngán ngẩm công danh nhưng vì nghĩa cả phải ghé vai gánh vác việc nước. Lúc ông thất thế, người ta lại thường tiếc bùi ngùi, và ngờ rằng ông là vị Thánh tử vì nạn.
“Bây giờ, vĩ nhân bằng xương bằng thịt đó ngồi đây”…
Nguyên nghĩ, anh đặt tách càphê trước mặt nhạc sĩ:
- Xin mời anh uống cho nóng.
Nguyên uống cạn tách càphê nhanh chóng, rồi ủ chiếc chén còn nóg giữa hai bàn tay, anh chờ đợi Trần Phương. Khi ông ta đặt chiếc tách không xuống bàn, anh bắt đầu nói:
- Tôi không mong muốn có cuộc trò chuyện này, chắc anh cũng thế. Vì chúng ta không thuộc loại người sẵn sàng giơ mặt ra để thiên hạ ngó nhìn và đàm tiếu.
- Vâng, vâng, tôi cũng nghĩ thế… Trần Phương hấp tấp đáp: - xưa nay, tôi chỉ nghe tên mà chưa biết mặt anh. Có lẽ lỗi lầm chính là ở đây…
“Ông ta quá vội vã, và chưa chi đã muốn thanh minh. Thật kỳ lạ”. Nguyên nghĩ, nhưng anh im lặng nhìn Trần Phương và lắng nghe ông ta nói tiếp:
- Tôi đã nghe Linh mô tả đời sống chung của anh với cô ấy. Quả thực là với những lời lẽ của Linh, tôi đã hiểu rằng Linh cũng bất hạnh như tôi. – Ông dừng lại, nhăn mặt - Thế đây, hai chúng tôi đã tìm thấy sự đồng điệu của những kẻ mất mát, thua thiệt, và chúng tôi không thể nào… Anh là trí thức, anh hiểu rằng con người luôn luôn có khát vọng sẻ chia những tâm tình sâu kín. Bởi vì, nếu không có ai gửi gắm, nỗi đau khổ sẽ trở thành một gánh nặng khó chịu đựng nổi trong cuộc đời.
Những tiếng nói của Trần Phương gõ nhịp vào tai Nguyên. Anh vẫn nghe nhưng mắt lo đãng nhìn những ngón tay của Trần Phương đang máy động trên bàn. Những ngón tay thuôn dài, không ám khói thuốc, không có chai và các vết xước vì lao động nặng, với làn da nâu nâu xam xám và lớp lông đen dài… Nguyên vụt nghĩ: Những ngón tay kia đã thoả thuê ve vuốt Linh… Ngay tức khắc, anh hình dung làn da mịn màng của vợ, khuôn ngực rắn chắc và vòng cổ tròn đầy sức sống. Một lưỡi gơm dài xuyên qua anh, chọc thủng các thớ thit khiến máu anh nhỏ ròng ròng cuống ngang hông…
Trong lúc ấy, Trần Phương quan sát gương mặt Nguyên. Không thấy một phản ứng nào trên đó, ngoài sự nhẫn nhịn đã hằn thành nếp:
“Anh ta là loại người có thể chịu nỗi đau đớn và cảnh đơn chiếc năm năm, mười năm, mười lăm năm hoặc tới chót cuộc đời…”
Ông thấy thương hại Nguyên, sau giây lát ngập ngừng ông nói tiếp:
- Tôi biết lòng hờn oán thường khiến con người kém minh mẫn. Có lẽ anh không phải là một kẽ phũ phàng, đê tiện như Linh tưởng. Có lẽ có sự ngộ nhận nào đó ở đây… Tôi hứa với anh rằng tôi sẽ làm cho Linh hiểu ra sự thực…
Nguyên nhìn Trần Phương, nhếch mép cười.
“Anh ta cười gì nhỉ?...” – Ông nghĩ. “chắc anh ta nghi ngờ…”. Và ông vội vã nhắc lại, với một vẻ quả quyết vô cùng cao thượng:
- Tôi hứa chắc chắn với anh, tôi sẽ làm điều đó. Đây là lời hứa giữa hai người đàn ông…
Nụ cười khó hiểu vẫn ngưng đọng trên khoé môi Nguyên. Anh đang chăm chú nhìn Trần Phương và tự hỏi:
“Không biết ông ta thuộc loại người nào? Chắc chắn Linh không có một lời bình phẩm về mình, từ thời con gái Linh đã có đặc tính không bao giờ nói sau lưng người khác, nhất là những lời thoá mạ, và cho dù đối phương là kẻ thù đê tiện và bỉ ổi mà mọi người đều chứng nghiệm… Tại sao ông ta lại dựng lên chuyện đó? Để lấy lòng mình hay bôi nhọ Linh? Cả hai mục tiêu đều hèn hạ…”
Nguyên nhăn trán lại – đó là một thói quen – và anh cắn chặt hàm răng: “Linh, em đã bỏ anh để đi tìm một thần tượng như thế phải không?”
Trần Phương thấy gương mặt Nguyên xám lại, chìm hẳn vào nỗi tuyệt vọng liên hồi, không lối thoát. Ông hiểu rằng đối với anh ta, Linh là toàn vẹn cuộc đời với quá khứ mộng mơ êm ấm, với thực tại cay đắng, với tương lai phập phồng hy vọng và đau khổ… Ông biết mình tàn ác, vừa sợ hãi vừa ân hận, ông muốn bày tỏ cho người chồng bât hành kia hiểu rằng ông không hề có ý thức cướp đoạt hạnh phúc của anh ta:
- Anh Nguyên, với con mắt thông thường của người đời, tôi phải gánh chịu phần nào trách nhiệm về sự đổ nát của anh… Nhưng, tôi muốn nói với anh rằng cội nguồn của mọi chuyện là từ những ngộ nhận. Tôi tưởng rằng Linh bất hạnh, và chúng tôi tìm thấy sự đồng điệu trong cuộc sống. Nhưng nói cho đúng, tôi đã đến với Linh bởi lòng nhân ái nhiều hơn là bởi tình yêu. Một thiếu phụ có nhan sắc, có trí thức bị rơi vào cảnh sống đoạ đầy. Sự khắc khoải trong đời sống tinh thần dẫn đến những suy sụp về thể chất. Đã từng có biết bao người đàn bà nhan sắc bị huỷ hoại trong cảnh bất hạnh và họ đã đau khổ vì đánh mất oan uổng tuổi thanh xuân?
Trần Phương ngừng lại. Những lời lẽ say sưa ấy, ông thấy đó là sự thực. Phải, chính lòng nhân từ đã dẫn ông đến với Linh, dưới vầng hào quang của vị Cứu thế. Ông nói tiếp:
- Con người, khi ta đạp xuống, nó sẽ trở nên độc ác và tồi tệ hơn chính bản thân nó. Nhưng khi ta nâng lên, nó sẽ tốt đẹp hơn bởi phần thiện được nảy sinh. Tôi muốn dìu Linh lên miệng hố của thất vọng. Tôi muốn tình yêu của tôi sẽ nâng đỡ…
Đôi mắt Trần Phương long lanh với các ý tưởng nồng nhiệt mà ông đang say sưa bày tỏ. Bàn tay ông miếtl ên bàn, với dáng vẻ kiêu sa hờ hững của những người quen hiện diện và phô bày vẻ đẹp cảu bản thân trước đám đông. Nguyên nhìn bàn tay ấy, nớh tới mỗi cuộc triển lãm hội họa, Trần Phương được mời tới cắt băng khai mạc. Khi cắt băng xong, ông ta đã ngồi xuống hàng ghế đầu, vắt bàn tay hờ hững dịu dàng như thế trước cặp mắt của hàng trăm công chúng say mê nghệ thuật. Con người ấy, thần tượng của biết bao thanh niên, vị á thành tình yêu của biết bao thiếu phụ và thiếu nữ, kẻ đã đày đoạ anh và con gái anh vào cảnh đời lạnh lẽo như thế đó sao?... Giá ông ta cứ mỉm cười tàn nhẫn và đểu cáng bảo anh:
“Mày là thằng ngu, đàn ông không giữ được vợ thằng khác sẽ chiếm mất. Vợ mày ngon lành hấp dẫn thế làm sao tao trả cho mày được?...”
Đúng thế, giá ông ta cứ quăng vào mặt anh những lời lẽ thô bỉ nhưng chân xác thế anh còn dễ chịu hơn. Đằng này, ông ta lại thuyết giáo về lòng nhân đạo, về sự nâng đỡ phẩm giá và tinh thần con người, về sứ mệnh cao cả của các bậc Thánh… Với lời lẽ ấy, ông ta hiện ra dưới vầng hào quang của Chúa Cứu thế, còn Linh là con chiên được vớt khỏi hố sâu tuyệt vọng cùng những sa ngã tối tăm. Chắc chắn giờ đây, ông ta hoàn toàn tin rằng ông ta là một người đàn ông cao quý, còn cái thằng đã dan díu với Linh và đã phản bội cô nhơ bẩn lại là một hình bóng ở bên ngoài thế giới này…
- Trời ơi i i…
Một lần nữa, tim anh gào thét: “Em đã đày đoạ anh, đày đoạ con và đày đoạ chính thân em vì một con người như thế, phải không Linh?...”
Lưỡi gươm tàn bạo lại xuyên qua sườn người đàn ông, giữa hai lá phổi tới hông bên trái. Nguyên ngước lên nhìn Trần Phương:
- Thế còn việc anh đưa vợ tới đánh ghen với cô Linh, chắc cũng để nâng đỡ cô ấy khỏi cơn tuyệt vọng và để cho cô ấy được thăng hoa?...
Trần Phương ngớ người ra trong khoảnh khắc. Ông đang bị huyễn hoặc bởi chính diễn thuyết của mình. Lưỡi ông như bị dính chặt vào hàm. Lát sau, ông lắp bắp:
- Đó... đó lại là chuyện khác... một vấn đề hoàn toàn khác...
Lưỡi gươm nhọn vẫn xuyên qua Nguyên khiến anh phải còng lưng xuống. Rồi từ cái cử chỉ giống như sự nén chịu ấy vụt loé lên một tiếng thét. Nguyên không nhớ anh đã gầm lên ra sao, nhưng ngay từ lúc tiếng kêu đường đột và man dại ấy cất lên, anh đã rùng đứng lên theo. Người đàn ông loạng choạng suýt ngã. Ông ta vội níu lấy mép bàn. Hình như ông ta đã ngước nhìn anh với đôi mắt rối loạn, sợ hãi. Và hình như ông ta có lẩm bẩm nói điều gì đó mà anh không nhớ nổi... Nguyên đứng lom khom. Cảm giác đớn đau nhục thể không hề thuyên giảm. Anh quát vào mặt Trần Phương với một giọng khàn đục, xa lạ như giọng một người nào khác biệt:
- Cút đi.
8
Ngay hôm Linh trở lại bục giảng, lũ học trò đã tự động làm một buổi liên hoan mừng cô. Chúng cắm hoa đầy gian phòng nhỏ của cô và lớp học. Đám con gái xăng xái đi lại, bày biện. Lũ con trai túm tụm lại từng đám chuyện trò vui vẻ, vài đứa so dây đàn, chuẩn bị lại những bài hát sắp biểu diễn:
- Cô sẽ được nghe một chương trình ca nhạc mới tinh. Suốt thời gian cô vắng, chúng em chưa có buổi biểu diễn nào.
- Cô ơi, bánh dẻo có ngon không? Chúng em mua ở tận Hàng Đường cơ đấy.
- Cô ngồi giữa em và bạn Mai cơ...
Mắt lũ trẻ long lanh và gương mặt chúng toả ra thứ ánh sáng dịu êm của mối thâm tình. Linh nghẹn ngào. Lớp học, tấm bảng đen quen thuộc, sự quyến luyến của đám học sinh trả lại cho cô giá trị thật của đời sống...
Buổi liên hoan kéo dài tới chiều. Linh trở về nhà, lần đầu tiên sau những tuần lễ trằn trọc được ngủ một giấc sảng khoái. Lúc sắp tỉnh dậy, cô chợt nghe tiếng con:
- Mẹ ơi i i...
Linh tưởng mình ngủ mê, quay mặt vào tường. Nhưng tiếng gọi của đứa con vẫn vọng vào, ám ảnh:
- Mẹ ơi i i... Mẹ Linh oi i... i... Mẹ ngồi dậy đi...
Linh mở choàng mắt. Bé Hương Ly đứng ở đầu giường đang cố sức quay đầu mẹ ra:
- Hương Ly, con gái của mẹ, con của mẹ...
Người đàn bà bật kêu, ôm chầm lấy con và bế bổng nó lên giường.
Rồi hai mẹ con hôn nhau chi chít.
- Con nhớ mẹ không?
- Nhớ mẹ nhiều lắm.
- Nhiều bằng cái gì cơ?
- Bằng cả ông trời.
- Mẹ cũng nhớ con, bằng mười ông trời cộng lại. Ông bà nội có khoẻ không?
- Khoẻ lắm ạ. Ngày nào bà cũng cho con ăn hồng xiêm đấy.
- Bố đón con về hôm nào?
- Hôm thứ hai ạ.
- Thế bố đèo con tới đây rồi bố đi đâu?
- Không, bố ngồi ở ngoài bàn...
Con bé giơ tay chỉ sang phòng thủ thư. Linh ngồi nhỏm dậy, thấy Nguyên bên ngoài tấm ri đô ngăn cách. Thoạt tiên, cô giật thót mình. Rồi sau đó, cô chợt nhớ tới nỗi nhục nhã vừa nếm trả và hai má bắt đầu nóng rực lên:
“Chắc anh ấy biết sự việc và tới đây để nhiếc móc mình”.
Nghĩ như thế, cô khoác áo, bước ra, buông một câu nói lạnh lẽo thách thức:
- Anh cần gặp em có chuyện gì?
Nguyên ngước mắt lên. Một dòng điện lan truyền khiến người đàn bà bất giác run rẩy. Ánh mắt của anh là ánh mắt của một người yêu mỏi mòn vì chờ đợi và hy vọng. Gương mặt anh là gương mặt của một người triền miên sống trong suy tư, khắc khoải xót xa... Không, trong ánh mắt ấy không có lòng thù hận, không có sự chế giễu cay đọc, không có những hiềm khích nhỏ nhen...
Nguyên không trả lời vội. Anh móc bao thuốc. Những ngón tay gầy của anh run run. Người đàn bà quơ tay bám lấy mép bàn. Cô đã nhìn thấy những món tóc bạc ở hai bên thái dương của anh. Cô đã nhìn thấy những nếp nhăn mới hiện trên vầng trán và hai gò má… Có tiếng kêu nào đó trong quá vãng vừa bật lên, lay động từng ngõ ngáhc thầm kín nhất tỏng tâm hồn cô, rung chuyển từng giọt máu trong huyết mạch của cô:… “Đưa tay đây anh băng cho nào. Tại sao em cứ luôn luôn vội vã thế?... Đừng có đọc những quyển sách nhảm nhí ấy, cô bé ơi, nó sẽ tiêu phí của em khá nhiều thời gian và làm cho đầu óc em bốc lửa”… Một bàn tay dịu dàng ấm nóng đặt trên lưng. Bóng mát của giảng đường, những lối mòn dãi đầy ánh trăng quanh khu học xá… Tình yêu cảu cô, niềm say mê tuổi xuân cộng với một chút tình mẫu tử và huynh đệ. Cánh đồng thu bình yên vàng óng và những nếp núi màu lam phơi dưới ánh trời… Bóng dáng hạnh phúc đã phai tàn hiện ra phía sau những ngón tay thân thuộc… Linh bỗng mờ mắt đi vì những ảnh hình cũ chao đảo trong cô, pha trộn vào nhau, chồng chéo lên nhau với tốc độ chóng mặt của lực ly tâm. Chúng như một cơn dông gào rú lên trong cơn hoang mang, thảng thốt, giữa những ngờ vực và sự đổ vỡ, những hối tiếc và âu lo… Tại sao? Tại sao?... Giữa muôn ngàn mảnh vụn của tan nát, chợt hiện lên bầu trời thu xanh thẳm, một làn mây nhẹ và xốp như khói giăng qua bầu trời, hàng xây xao xuyến ven đường, nơi họ dừng lại, nhìn vào mắt nhau say sưa tới vô cùng vô tạn, thu gọn cả thế gian vào trong giây phút thần thánh ấy...
“Đúng hay là sai, thật hay là ảo?”…
Người đàn bà đột nhiên thốt lên tiếng kêu trong tâm khảm vì hình ảnh trọn vẹn của hạnh phúc đã qua và cảnh sống chênh vênh tàn nhẫn của hiện tại như hai gương mặt cùng lúc hiện ra, soi nhìn nhau qua đáy vực. Linh lờ mờ cảm thấy trong thần tượng nhạc sĩ Trần Phương một gợn sóng của phù du, một âm thanh câm nín của đổ vỡ. Và cô cũng thấy trong cuộc chung sống với Nguyên một cứu cánh nào đó mà cô đã vội vàng vùi xuống cát bụi…
Nguyên châm thuốc. Các đầu ngón tay anh vàng khè, Linh nhìn những ngón tay chồng lần nữa và cô bỗng đọc được những đêm dài vò võ, những buổi chiều hiu quạnh của anh, nỗi đớn đau của hy vọng không nguội tắt và những dằn vặt của trí nhớ… Mà trong lúc đó, cô ngắm những cánh buồm của sông Hồng, những cành táo bên ngoài khuôn cửa ngôi nhà ngoại ô và lắng nghe những câu nói ngọt ngào, những bài hát quyến rũ của Trần Phương… Chỉ trong giây lát, sự so sánh ấy vụt dựng trong lòng cô hình ảnh của tội lỗi và niềm tủi hổ. Người đàn bà ngoảnh mặt đi, cố gắng giữ những giọt nước mắt khỏi trào lên mi.
Lúc ấy, Nguyên vẫn chậm rãi hút thuốc: Một, hai ba hơi liền. Đoạn, anh thong thả nói:
- Nếu em không bằng lòng, anh sẽ rời khỏi nơi đây.
Linh im lặng.
Bé Hương Ly từ sau tấm ri đô chạy ra:
- Ứ cho bố Nguyên đi, ở đây với con cơ.
Nó ôm chặt cổ Nguyên. Anh vuốt ve làn tóc tơ của con, nói:
- Nếu mẹ đồng ý, bố sẽ ở lại.
Hương Ly quay sang mẹ:
- Mẹ đồng ý chứ mẹ?
Người đàn bà lặng lẽ nhìn con, không trả lời được vì phải cố gắng kìm giữ nước mắt. Đứa bé khôn ngoan không đợi câu trả lời quay sang bảo bố:
- Mẹ gật đầu rồi đấy. Con đi ngủ. Lúc nào con dậy bố đèo con đi mua bánh ngọt ở Tràng Tiền.
Nói rồi, nó chạy vào buồng ngủ, không quên liếc mắt thăm dò bố mẹ lần cuối. Nguyên và Linh cùng im lặng hồi lâu. Đoạn, anh nói:
- Lẽ ra, anh không nên tới đây. Nhưng anh sợ rằng em còn ốm.
- Cảm ơn, em không ốm, em không bao giờ ốm cả...
Linh bật trả lời ngay tức khắc, giọng nóng nảy cục cằn. Cô không nhìn vào mặt anh vì hiểu rằng anh đã thông tỏ mọi chuyện và thương xót cô. Rằng dưới ánh mắt anh, cô là một người đàn bà nhẹ dạ, khờ khạo và tăm tối. Rằng tình cảnh nhục nhã ấy dày vò cô như những cực hình... Nguyên biết rằng anh đã chạm vào nỗi đau của vợ. Nỗi đau ấy như vết thương chưa kịp kín miệng, như con chó dữ nằm phục trong bóng tối, chỉ cần một tiếng động mơ hồ cũng khiến nó chồm lên: mình luôn luôn đi sai nước cờ vì cái tính thật thà đoảng... Anh nghĩ và âm thầm rít thuốc cho tới khi hết. Rồi anh nói:
- Nếu không còn là vợ anh, em cũng còn là mẹ bé Hương Ly. Anh có nhiệm vụ...
- Anh không có nhiệm vụ nào hết, không ai cần phải nghĩ tới tôi.
Linh cắt lời anh lần thứ hai, cũng gay gắt thế. Nguyên thấy khoé môi cô run run. Anh nghĩ rằng Linh còn nổi khùng vì mặc cảm và tính ương gàn của cô thật đáng quở trách. Nhưng anh vẫn mềm mỏng nói tiếp:
- Từ ngày em xuống đây, đã có nhiều lần anh tìm gặp em. Đúng là như vậy. Tất nhiên anh vẫn yêu em. Nhưng con người cần phải thích nghi với đời sống Linh ạ. Nếu anh không tập làm quen, và buộc phải dần dần quen thực với nỗi đau mất em, làm sao anh tồn tại?... Em coi anh như một pho tượng, khi pho tượng ấy còn được trí tưởng tượng của em vây bọc, em thờ phụng. Lúc nó phơi dưới ánh nắng trần trụi và bỏng rãy của mặt trời, em chợt thấy nó chỉ là một cục đất sét khô, phơi quét lem nhem, và em ném thẳng nó ra đường không nhìn ngó lại… Nhưng anh không phải pho tượng, anh là con người, và anh phải sống cuộc sống con người. Em cũng là tín ngưỡng của anh, nhưng anh chấp nhận với tất cả những khiếm khuyết, những dại khờ và nhầm nhỡ… Còn em, chắc chắn là không…
Linh không đáp, môi cô mím chặt lại ương bướng. Nhưng trái tim cô vỡ oà trong tiếng kêu ca đau đớn: Nguyên đã nói đúng. Cô vừa kịp nhận ra mình, tựa hồ tựa tia sét chói loà vụt loé lên mà ta nhìn rõ cảnh vật trong một đêm bão tố: những đồng ruộng, núi non, khe suối và vực sâu… Trong nháy mắt thần diệu ấy, người đàn bà run lên khi ngoái lại quãng đời đã qua và đoạn đường chênh vênh sắp tới. Trong nháy mắt, niềm hối tiếc gào thét, nỗi lo âu cuộn xoáy như dòng lũ nơi khúc ngoặt con sông… Giá như Nguyên đọc được những ý tưởng của cô lúc đó. Giá như anh hiểu rằng chính khoảnh khắc đầy hy vọng vãn hồi hạnh phúc mà bấy lâu nay anh mong đợi đã đậu xuống lòng bàn tay anh như con chim sơn ca trong một rạng đông trong lành… Nhưng anh không đọc được ý tưởng ấy. Anh nhìn gương mặt ương bướng nom trẻ như một thiếu niên mười sáu tuổi của vợ, và nghĩ rằng cái gương mặt ấy hấp dẫn con người chính ở vẻ tự tin bạo liệt và ngây dại không biến đổi, rằng dầu có yêu thương tới đâu người ta cũng phải rời xa nó bởi tính bất biến của lòng hiếu thắng. Anh châm một điếu thuốc khác và nói:
- Hôm nay, anh tới gặp em vì anh vừa đối mặt với con người ấy…
Linh khẽ à lên một tiếng nhỏ rồi mím môi lại. Cô vừa bối rối vừa thảng thốt. Nguyên hiểu rằng Linh còn yêu Trần Phương mê đắm, dù thù hận ông ta. Anh muốn nhếch môi cười mình. Có một người đàn ông khác đứng bên ngoài, bình tĩnh nhả khói thuốc và nhìn sâu vào nỗi đau hèn mọn của anh:
- Anh không muốn nói lại những điều ông ta đã nói với anh. Nhưng anh muốn em bình tĩnh nhìn lại cuộc đời. Em hãy định giá lại mọi sự cho công bằng, khách quan...
Anh ngừng lại rồi hạ giọng:
- Người ta, ai cũng có những phút yếu lòng, những khoảnh khắc hèn mọn, những hành động lầm lỡ… Có điều, phải nhìn sâu vào cội nguồn của các khuyết tật ấy, và hãy xét xem có thể tha thứ được không?...
Linh nhìn Nguyên. Thói quen quy kết của cô lại nổi lên, xoá mờ những xao động trong tâm hồn. Cô lại trở nên khắc nghiệt với anh, cô nói:
- Anh đừng nói như vậy. Đừng dùng lỗi lầm của một kẻ khác để bào chữa cho lỗi lầm của mình. Trần Phương tồi tệ với cá nhân em, nhưng ông ấy trung thành với lý tưởng. Còn anh, anh đã quay lưng lại với những gì chúng ta tôn trọng, những nguyên tắc chung cho lẽ sống của mọi người.
- Anh chỉ là một thành viên nhỏ bé của đời sống. Anh không thể hành động ngược lại xu thế chung vì có như vậy cũng chẳng đem lại lợi ích gì.
- Hoặc là vì thế. Nhưng đúng hơn là vì lợi ích của cá nhân anh.
- Nếu ở địa vị anh, em sẽ làm gì?
- Làm đúng những điều em nghĩ.
- Chúng ta chỉ là những thợ phụ, những chú bé chạy vặt bên lề, Linh ạ.
- Nhưng ít nhất người ta cũng phải ghi nhận tiếng kêu báo động của anh như một tín hiệu cần phải có.
- Những tiếng kêu lẻ loi chỉ chìm trong yên lặng như những hạt cát chìm dưới đáy hồ. Phải chờ đợi, Linh ạ.
- Chờ đợi cái gì?
- Sẽ tới lúc những chân lý khách quan được tôn trọng hơn.
- Nhưng bao giờ tới lúc ấy, khi ngay cả lớp người hiểu biết như anh cũng ứng xử như những kẻ làm thuê?
Nguyên im lặng nhìn Linh, mỉm cười buồn: “Về mặt nguyên lý bao giờ em cũng đúng, em bé ạ”… Và trái tim anh chìm vào một cảm giác chán nản, mệt mỏi chưa có bao giờ… Những dòng nước mắt vô hình chảy trong tim, tụ góp nỗi buồn ký ức, những buổi chiều mệt mỏi từ toà soạn trở về, khuôn viên ấm nóng ánh trời – nơi anh ngồi nghiền ngãm, những bông hoa đỏ thắm nở dưới ánh tà dương gợi một nỗi buồn cô liêu không sao cắt nghĩa được… Tại sao cô không hiểu cho những uẩn khúc đó, tại sao cô không thể chấp nhận sự bất lực của con người trước sức mạnh khách quan? Tại sao trái tim cô lại sắt đá và cố chấp tới mức như vậy?... Có lẽ bởi niềm si mê Trần Phương đã dập xoá những hồi âm của hạnh phúc và làm thui chột sự cảm thông còn có thể được đối với anh?... Người đàn ông cắn răng lại. Anh rít nốt những hơi thuốc cuối cùng và ngẩng lên:
- Có lẽ, em cần ở anh một chữ ký?
Linh chưa kịp hiểu anh đã nói tiếp:
- Trước đây, anh đã nói với em rằng anh sẵn lòng chờ đợi: Một năm, hai năm, bă năm hoặc lâu hơn nữa. Anh yêu em hơn tất cả những gì người đàn ông ham muốn nhất trên đời: Danh vọng, tiền tài, thế lực… Anh đã quen với hình ảnh của em đến nỗi nó chi phối anh ngay cả trong giấc mơ. Anh tưởng rằng anh có thể chờ đợi em quay về… Nhưng bây giờ, điều đó không cần nữa… Em cho anh xin tờ giấy trắng…
Linh đờ người. Trước đây, nhiều lần cô giục anh ký vào tờ đơn ly hôn. Nhưng lúc này, ý muốn cũ lạnh giá đi như món ăn mùa đông không được hâm nấu lại. Giá như cô có thể nói được: “Hãy bình tĩnh đi anh, em đã nhận ra sự bất công của em rồi… Hãy cho em suy nghĩ”… Ồ, giá như cô có thể nói lên những ý nghĩ của mình… Nhưng lòng tự ái không cho phép cô cất lên lời thú nhận ấy. Cô lục lọi đống giấy trắng, tìm một tờ vuông vắn đưa cho anh:
- Tờ này đủ rồi.
Nguyên nói, tự tay anh đặt tờ giấy ngay ngắn trước mặt mình:
- Em là bên nguyên em kí ở góc này. Anh là bên bị, anh ký góc đối diện.
Một nét bút kéo roạt trên mặt giấy. Xong, anh ghi tên rành mạch, rõ ràng phía dưới. Đoạn, anh đứng lên:
- Thời gian tới, con sẽ ở với anh... Em bận, vả lại anh cần nó hơn em.
Anh nói bình tĩnh nhưng rạch ròi. Và không đợi câu trả lời, anh vào buồng đánh thức bé Hương Ly. Linh sững sờ nhìn chồng: Thế là hết, không còn hy vọng vãn hồi. Nguyên biết Linh yêu con, nếu còn thương yêu và nhẫn nhịn cô, anh sẽ để nó ở lại. Lâu nay, cô đã quen với sự chiều chuộng và vị tha ấy. Giờ đây, cô hiểu rằng anh cũng có khả năng dứt bỏ cô như bất cứ người đàn ông nào khác trên đời có thể dứt bỏ nhanh chóng người đàn bà đã từng chung sống. Sợ hãi nuối tiếc, âu lo, khắc khoải… ngần ấy thứ cảm giác xáo trộn tâm lý người đàn bà. Trái tim cô như con tàu sắp dấn vào cuộc hành trình trên biển thẳm mù sương…
- Bố ơi, đi Tràng Tiền hả bố?
Hương Ly tỉnh ngủ, vừa xỏ tay vào áo vừa cất tiếng hỏi.
- Ừ, đi mua bánh cho con.
Nguyên đáp.
- Rồi lại về với mẹ phải không?
- Không, về nhà mình.
- Ứ ừ, con không về đâu, con ở đây với mẹ cơ...
Con bé lắc đầu quầy quậy. Nguyên nhìn con, anh nói với giọng nhẹ nhàng và thấm thía:
- Con làm sao ở đây được? Mai kia, các anh chị học sinh của mẹ sẽ tới chật cả phòng. Về nhà mình, rồi mẹ sẽ về theo.
Hương Ly tin tưởng, chạy tới ôm mẹ hôn chi chít lên hai má.
- Con đi phố Tràng Tiền nhé. Bao giờ mẹ về nhà mình?
Họng Linh tắc lại, cố bật lên một tiếng:
- Mai.
Con bé láu táu chạy ra cửa. Nguyên đứng lại, nhìn Linh, và mỉm cười buồn bã:
- Buồn quá phải không Linh. Chúng ta đều đã biến thành những kẻ dối trá.
Cô không đáp. Anh nhìn sâu vào mắt cô, cố thu lại lần cuối ngọn lửa rực rỡ trong đó. Và anh hạ giọng, nói:
- Chúc em mọi sự tốt lành. Nhớ giữ gìn sức khoẻ... Dạo này, anh thấy em...
Người đàn ông ngừng lại vì anh nhìn thấy sợi gân xanh xanh nổi lên trên cần cổ đã hao gầy của vợ phập phồng. Buống lửng câu nói, anh ra đi. Bé Hương Ly ngồi lên xe, còn giơ tay vẫy mẹ. Khi hai bố con đã hoàn toàn đi khuất, Linh đã bật khóc oà lên:
“Trời ơi, lẽ ra mình có thể hoà hoãn với Nguyên, lẽ ra mình có thể tìm lại cuộc sống bình yên cũ... Tại sao mình lại không thể tha thứ được cho anh?...”
Thành phố đã lên đèn. Nguyên đạp xe thờ thẫn giữa dòng người nhộn nhạo của phố xá.
“Tại sao, tại sao như thế?”... Mình tới đây với ý định thuyết phục Linh trở lại. Nhưng kết cục mình đã giục Linh tìm một tờ giấy đẻ làm thủ tục cho cuộc chia xa vĩnh viễn... Tại sao?
°
Giáp Tết Nguyên Đán năm ấy, vào ngày hội hoa ở chợ Hàng Lược, Trần Phương cùng vợ đi mua hoa đào. Nhưng tới nơi, ông bảo bà vào chợ còn mình đứng chờ ở góc phố. Chiếc Lađa xanh đậu cách chợ một dãy phố vì đường bị cấm, cậu lái xe ghếch chân lên cửa đọc Tây du kí. Bà Hoa hẹn bốn mươi phút sẽ quay lại nhưng đã hơn một tiếng vẫn chưa thấy bà đâu. Nhạc sĩ chồn chân, đi vòng vo tìm quán nước ngồi. Nhưng những quán trà nhỏ quanh đấy đã dẹp hết. Sau rốt, ông quay lại chỗ cũ, đứng chờ. Chợt, một người đàn bà nhăm nhăm tiến đến. Trần Phương ngơ ngác nhìn. Người đàn bà trạc bốn mươi hoặc hơn nữa nhưng còn thanh mảnh. Dáng đi quen quen, gương mắt trắng hồng với cắp kính lớn màu tím:
- Ai nhỉ?
Bà ta cứ nhằm thẳng ông mà bưới tới. Rõ ràng, bà tìm ông. Trần Phương vừa phỏng đoán vừa nơm nớp lo vợ bất chợt quay về, với bản tính ghen tuông đồng bóng, không hiểu bà ta sẽ giở trò gì ra giữa phố đông?... Người đàn bà lạ lùng đã đi tới mép đường, dừng lại chờ xe. Khi bà ta quay nghiêng, Trần Phương chợt nhận ra đó là bà Phượng. Bà vẫn đẹp và còn sang trọng hơn xưa. Trong bộ complê tím nhạt, đôi giày bọc nhung sẫm và chiếc khăn quàng rực rỡ, bà còn khiến cho nhiều người đàn ông phải ngoái cổ nhìn theo. Bà sắp tới trước mặt ông;
- Phượng... Phượng! Chào Phượng.
Nhạc sĩ lắp bắp, chân ông lùi về phía sau.
- Chào anh, sao anh hoảng hốt thế?
Bà khẽ nhếch môi cười, và nhấc cặp kính ra:
- Phải bình tĩnh chứ?...
Trần Phương lúng túng vài giây rồi nhún vai:
- Tôi... tôi bình thường.
Ông nhìn đôi môi tô son đậm và khéo đang nở nụ cười đỏ chót, cố lục tìm hình ảnh cặp môi đó gần hai mươi năm trước. Bà là cuộc phiêu lưu tình ái đầu tiên của ông, hồi ông còn ngờ nghệch nhưng đã có những may mắn không mấy ai có được. Bà đã từng làm ông mê đắm, điên dại nhưng giờ đây trong lòng ông, bà chỉ còn là một tử thi được trang hoàng bởi nhung lụa phấn son. Dưới lớp vỏ kiêu sa ấy, bà đơn thuần là một cô hàng xén, dù là thứ hàng xén ở Hà nội chứ không phải ở cửa rừng. Sau này ông chinh phục được nhiều người đàn bà thông minh, mặn mà hơn nên ông đã ngoái nhìn thứ nhan sắc nhạt nhẽo vô tri thức như người no đủ nhìn đĩa cơm nếp nát. Lúc Trần Phương nghĩ về những điều đó, bà Phượng lia cặp mắt sắc như dao nhìn ông:
- Tôi thua anh.
Bà mở đầu câu chuyện.
- Tôi muốn trả thù, nhưng ngọn roi lại quất xuống lưng con bé cháu khốn khổ của tôi. Còn anh, anh đã thoát khỏi mọi rủi ro như con trạch lẩn trong bùn. Trời giúp anh.
Trần Phương im lặng:
“Con mụ này định nói gì thế nhỉ? Tốt hơn cả là ta cứ nhịn nhục cho xong. Chẳng ai chứng kiến chuyện này. Những vặt vãnh của đời thường, không thể chấp”.
Nhưng ánh mắt toé lửa của bà vẫn cứ chiếu thẳng vào mắt ông:
- Trời cũng có lúc lẫn. Nhưng non cao, đất dày sẽ có mắt có tai. Kẻ độc như anh không có con đâu. Anh là đồ tuyệt tự...
Bà nói gióng giả từng tiếng với nỗi hả hê:
- Anh là đồ tuyệt tự, bởi vì nếu có con, anh cũng chỉ để loại toàn rắn rết trong cõi đời...
Bà ngừng lại, nhìn ông với anh mắt cay độc rất đàn bà. Rồi bà kẹp chiếc ví vào nách và nói tiếp:
- Tôi thua anh. Nhưng đời còn dài lắm. Bảy mươi chưa đui chưa què, chưa khoe làm tốt. Tôi nguyện rằng một ngày nào đấy, anh sẽ nhằn cái quả đắng mà anh gieo hạt hôm nay...
Nói xong, bà quay lưng thong thả bước đi. Trần Phương đứng ngây độn nhìn theo. Bất giác niềm kinh sợ lùa vào tâm hồn ông như cơn gió lạnh:
“Con mụ quái gở”...
Ông rủa. Nhưng nỗi lo sợ mơ hồ và xa xôi cứ lảng vảng trong óc não ông, tựa như một thoáng mây giăng nơi chân trời hè tạnh ráo. Những lời lẽ của bà Phượng gợi cho ông cái gì đó cũ kĩ nhưng lại tiềm ẩn sức gieo trì và gặt hái, sức sống trường tồn của cây cỏ, đất đá, mặt trời và các bóng râm. Nhưng dường như bà nội ông ngày xưa đã từng nói thế, vào những buổi tối tái tê nơi tỉnh lỵ, dưới ánh đèn dầu. Và dường như lâu hơn nữa, một bà cụ tổ mặt váy đen, yếm thắm cũng đã từng nói thế vào những buổi trưa kẽo kẹt tiếng võng đưa... Trần Phương sực nhớ hình tượng Phật và những mặt quỷ trong ngôi chùa thời thơ ấu. Giữa làn khói mờ ảo và hương thơm ngào ngạt của than trầm, chúng khiến chú bé Phương thắt tim lại vì sợ hãi. Khi lớn lên, dần dà những hình ảnh đó bị vùi lấp dưới tầng dầy của tháng năm. Giờ đây, chúng lại trồi lên mặt đất... “Nhảm nhí... lẩn thẩn, mình già hẳn rồi hay sao? Hãy quên những trò nhảm nhí ấy đi”...
Ông thầm nhủ. Nhưng nỗi run rẩy từ ký ức vừa thức tỉnh mỗi lúc rõ rệt hơn. Gợn mây nơi chân trời mỏng manh dần dần dồn tụ lại và biến thành đám mây dông. Trong nó, chập chờn, chồng chất không biết bao nhiêu hình ảnh, các gương mặt, các sự kiện, các thăng trầm của cuộc đời vụt dựng lên, soi vào nhau, tựa trò chơi của quỷ thần. Giữa đám ảnh tưởng dày đặc ấy, hiện lên một khuôn mặt thiểu não, hai má chảy xệ vì bệnh tật và mái tóc bạc như tàn tro. Cái đầu ấy nhìn ông với đôi mắt buồn thảm, mờ đục. Bên dưới nó là mặt biển tím lênh láng ánh tà dương.
“Quái quỷ”…
Trần Phương lắc đầu, nhắm mắt lại. Khi mở mắt, ông thấy mình đứng ở góc phố cũ. Trước mắt ông, dòng người từ chợ Hàng Lược vẫn toả ra, xôn xao, hối hả, người đèo chậu quất, người giơ cành đào…
“Lạ thật… vẫn chưa ra?”
Lần đầu tiên trong đời ông mong chờ vợ. Ông cần sự hiện diện của bà để lảng tránh giấc mơ ngay giữa ngọ. Nhưng bà vẫn chưa ra. Và cái đầu lâu kia lại trôi hiện lên mặt biển nhìn ông. Lần này đôi mắt lờ đờ chớp nhẹ:
“Cậu nhận ra tớ không, Trần Phương?”
Cái đầu trồi khỏi mặt nước sóng sánh, đến đôi vai nhọn, một cái lưng dài cong cong với cặp đùi gầy gò ép sát vào khuôn ngực. Mặt nước đại dương biến mất, giờ chỉ là tấm chiếu hoa cũ và người đàn ông có gương mặt buồn thảm ngồi bó gối trước chai rượu trơ đáy với vài củ lạc rang;
“Nhận ra tới không, người anh em?”
Y gật gù. Trần Phương quay đi vì chưng ông đã nhận ra y. Y già quá, và gương mặt y biến dạng đi ghê gớm quá. Họ đã từng là bạn chí cốt của nhau thời lửa khói. Y gốc người Bắc Ninh nhưng ở Hà nội đã lâu, khi ông từ Hải Dương lên, y vồ vập đưa ông về nhà y trọ học. Kháng chiến bùng nổ, họ cùng nhau viết những bản ca khúc vụng về nhưng tràn đầy tâm huyết. Ôi, cái thời đẹp đẽ nhất, hùng tráng nhất của dân tộc Việt. Cái thời người ta ném lửa vào mái nhà mình, thiêu huỷ đi cả gia sản cơ nghiệp của cha ông trong phút chốc với nụ cười bình thản trên môi. Cái thời người ta quăng tủ chè khảm trai và sập gụ ra lòng đường cản xe địch. Cái thời những chàng trai dứt áo ra đi, mắt ròng ròng lệ hận thù cứu nước, để lại sau lưng đô thành cháy đỏ… Ngày đó, y đã cùng chung với ông một bọc áo quần. Ngày đó, luôn miệng y ngâm nga mấy câu thơ của Quang Dũng:
Quân xanh màu áo dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới…
Y tốt bụng nhưng yếu đuối và nông nổi. Đàn bà yêu thương y và sẵn lòng bỏ qua cho y những lỗi lầm tầm thường trong sinh hoạt. Trần Phương nhớ có hồi trên Việt Bắc, y bị ghẻ nặng. Thiếu nước tắm và không có thuốc bôi, y ngồi gãi rách hết da thịt, vừa gãi vừa khóc: Tiên sư thực dân Pháp, nó làm ông khổ thế này…
Anh em trong cơ quan phải xúm lại xát các thứ lá có nhựa chát lên người y và thay nhau ngồi lấy cái ghẻ cho y. Y thích uống rượu và vì thế ở các bản xung quanh người ta thường mời y tới gảy đàn, uống rượu hát thâu đêm. Giọng y ấm và y hát ngọt ngào quyến rũ. Những tháng ngày kháng chiến trôi qua. Lúc tin thắng trận dồn dập và tin hội nghị Giơnevơ truyền về cũng là lúc họ nhận lệnh chuẩn bị tiến về đồng bằng giải phóng thủ đô. Cả cơ quan ôm nhau quay cuồng, la hét. Không thấy y đâu cả, nhưng ba giờ sáng y từ bìa rừng mò về, nước mắt đầm đìa, y gảy đàn và hát ca khúc vừa sáng tác. Mọi người xúm lại hôn y. Hồi đó bất cứ thắng của ai cũng được coi như cống hiến chung của lực lượng văn nghệ đối với cách mạng. Bài hát của y hay nhất trong tất cả các ca khúc được viết ngày ấy. Khi họ tiến về thủ đô, những đoàn quân trùng điệp khắp các cửa ô đã cất cao lời ca anh hùng, người hát rưng rưng và người nghe nhoà lệ. Một gợn đen tị hiếm hoi trong tim Trần Phương. Hai năm rưỡi sau, gợn đen đó biến thành đám cỏ um tùm. Hồi ấy, ông giữ một cương vị quan trọng trong cơ quan. Cấp trên giao cho ông thi hành biện pháp cứng rắn với nhóm chống phá cách mạng Nhân văn giai phẩm. Khi đã hoàn tất công viẹc, ông đề ra chương trình cảnh tỉnh những kẻ a dua, những người bấp bênh có cơ bị lôi cuốn bởi những phần tử xấu. Và chính ông đã xếp y vào nhóm người lãnh chịu kỉ luật. Y, cái thằng nhút nhát, và nát rượu, chỉ nửa chén cũng đủ say, rồi khóc rồi cười, rồi lảm nhảm những câu nói không chằng không rễ. Xưa nay, ai chẳng biết y như thế? Xưa nay, ai chẳng tha thứ cho y? Ông thấu hiểu ruột gan y nhưng ông không bỏ qua cơ hội đó, cái mầm cỏ tị hiềm u ám đã đâm rễ đâm nhánh chằng chịt trong tim ông… Dòng nhựa của đố kị trút vào máu ông chất độc dược mà những kỉ niệm tươi đẹp của thời áo nâu mũ lá trên rừng không làm tan nổi. Giấc mộng của những ngày lùi sắn bếp nhà sàn đã bị khuất lấp bởi mù sương. Sau cú đó… ông đã dần dần bước cao lên, và y, y dần dần trôi tuột xuống con dốc tuyệt vọng. Với bản chất hồn nhiên non trẻ, y không đủ can trường để chịu đựng oan trái và đắng cay. Y đã vùi tài năng của y vào các cốc rượu. Và giờ đây, y nhìn ông với đôi mắt lờ đờ, hai gò má chảy nhão trên gương mặt mà ông biết rất rõ rằng - thời trai trẻ xinh đẹp và tươi vui…
“Cậu không nhận được tớ hay sao, Phương râu?”
Y chớp mắt ngạc nhiên, nhắc lại câu hỏi lần thứ ba. Phương râu, đó là cái tên thân quen của tuổi thanh xuân đầy ước mộng.
Trần Phương bất giác rùng mình. Ông không thể nhắm mắt, cũng không thể quay đi mãi. Có một con đường xa tít tắp. Đầu đường, y đứng bên ông, với đám trai ba lô đèo lưng, súng khoác vai đi cứu nước. Cuối đường, họ đã trượt đi mỗi người một ngả…
“Cảm thương vớ vẩn, mình già rồi chăng?...”
Ông tự trách mình dữ dội.
“Đúng là những thứ tầm phào…”
Ông cố xua đi cảm giác âu lo đang dần dà đè nặng vai ông, tựa như bầu không khí của một ngày dông bão…
Đại hội kết thúc. Công chúng xôn xao mừng rỡ vì có nhiều gương mặt mới xuất hiện. Đặc biệt, người ta bàn luận việc Trần Phương trở lại cương vị cũ. Những ai ngưỡng mộ ông vỗ tay hoan hỉ. Những người chối bỏ ông nhún vai, lắc đầu:
- Cha này có quý nhân phù trợ. Số ông ta thế mà sướng…
Linh lắng nghe dư luận, thầm kiêu hãnh. Dẫu sao, cuộc đời cô đã bị cột chặt vào ông. Một tuần sau, tại trường âm nhạc có tổ chức một buổi mít tinh chào mừng thắng lợi của đại hội. Ở đó, Trần Phương sẽ tới nói chuyện với các giảng viên và sinh viên. Linh có một cô em họ đang theo học bộ môm lý luận trong trường, một trong những kẻ ngưỡng mộ nhạc sĩ Trần Phương. Cô bé hăm hở rủ Linh tới dự buổi mít tinh. Hai chị em ngồi trong giảng đường. Ở đấy, qua khuôn cửa sổ, họ nhìn rõ những cờ đuôi nheo ngũ sắc bay phấp phới trên cổng trường. Các tấm panô lớn đặt đối xứng hai bên. Ngọn đèn lòng lụa đỏ với tua dài rung rinh trong gió, vài chùm bóng bơm khí nhẹ, cùng với màu áo rực rỡ của các nữ sinh khiến không khí nhuốm vẻ hội hè.
Người tổ chức chính của buổi mít tinh chạy lên chạy xuống thử máy phóng âm và các ngọn đèn trên tiền đài. Anh ta mặc áo lông Đức, chiếc cổ áo lật sau mái tóc quăn bù rối.
- Xin các đồng chí ổn định trật tự. Năm phút nữa buổi mít tinh bắt đầu.
Vài giây sau lời tuyên bố ấy, chiếc Moscovic trắng từ cổng tiến thẳng vào sân trường, cua nhẹ nhàng rồi đỗ trước bậc tam cấp. Linh nhìn rõ Trần Phương. Ông ngồi phía sau, dáng cô đơn sầu muộn. Các giảng viên từ giảng đường hối hả đi ra hiên, đón nhạc sĩ lớn. Trần Phương tự mở cửa xe, bước xuống. Trông ông đường bệ quá. Danh vọng quả là thứ vũ khí lợi hại, nó đem lại cho người đàn ông quyền năng, lòng kiêu hãnh và sự chế ngự phi thường, nó tạo cho họ một gương mặt khác.
Linh không nhìn thấy ông nữa, có lẽ ông đã ngồi xuống hàng ghế đầu tiên. Bản nhạc tắt nửa chừng trong máy phóng âm, người giới thiệu lên nói vài lời phi lộ, rồi hiệu trưởng trường âm nhạc lên đọc diễn văn… Sau cùng ông bước lên bục:
- Hoan hô…
Tiếng ai đó hét lên sau lưng cô cùng tiếng vỗ tay ào ào như sấm dậy. Trần Phương quay gương mặt đẹp về phía công chúng, cười mệt mỏi dịu dàng và giơ một cánh tay lên vừa như để cảm tạ vừa như để xua đuổi những tràng vỗ tay nồng nhiệt. Cử chỉ đó kích thích lòng ngưỡng mộ của đám đông:
- Hoan hô, hoan hô…
Vài thanh niên cuồng nhiệt hét lên và tiếng vỗ tay ran khắp bốn phía. Trần Phương nghiêng đầu, khẽ nhún vai. Ông mỉm cười chờ đợi. Phải mười lăm giây sau, tiếng vỗ tay mới tắt hẳn. Ông bắt đầu:
- Thưa các bạn…
Linh ngước mắt lên. Thế giới chỉ tồn tại với cô trong gương mặt của người đàn ông ấy. Đôi mắt đen mênh mông dưới cặp mày đen như hai nét mực tàu. Một đôi mắt đầy ma lực. Khi cô gần gũi ông, ánh mắt ông êm dịu tựa như chúng ban phát những lời thầm thì và những vuốt ve. Giờ đây, nó bộc lộ mãnh lực chinh phục và khao khát. Điều đó khiến người đàn bà dường như ngây ngất, dường như bị phân tâm. Nhưng lát sau, cô trấn tĩnh lắng nghe và mỗi lúc mỗi kinh ngạc vì những lời Trần Phương vừa nói.
“Không, không lẽ lại như vậy, phải chăng đó là thủ pháp trong cách diễn đạt của Trần Phương?...”
Linh thầm nghĩ, cố gắng tập trung vào từng câu từng ý. Lần này, cô không còn hồ nghi nữa. Tất cả những lời nói với cô. Những từ ngữ kêu choang choang như chiếc kèn đồng, bóng lộn như mũi giày đánh xi, óng anh như mảnh thuỷ tinh dưới năng, chúng bao hàm một vẻ thành kính thái quá tới trào lộng, một niềm lạc quan giả dối tới mức người ta có thể ngờ vực đó là một trò đùa.
“Trời đất, có thật là ông ta đấy không?”
Dù đã rõ ràng, người đàn bà vẫn không thể chấp nhận được đấy là sự thực.. Mắt mở trừng trừng, cô nhìn lên diễn đàn. Nhưng không có trò ảo thuật ở đây. Vẫn chỉ là Trần Phương đấy thôi, ông vừa hất mái tóc lên, giơ tay chém vào không khí để phác một cử chỉ hào hùng. Vẫn giọng nói của ông thôi, nhưng khác biệt quá, tựa như các âm thanh vừa được đánh bóng lên như người ta lấy tro đánh bóng một chiếc thau đồng rỉ rét lâu ngày.
“Không, không thể nào”…
Cô buông lời kháng cự. Nhưng vô ích, Trần Phương còn đang nói trên kia, trước hàng ngàn cặp mắt ngưỡng mộ của đám sinh viên yêu âm nhạc, và loa phóng thanh truyền rõ từng hơi thở hào hển của ông, những chỗ nhấn giọng và những lúc với cao lên, lời răn dạy tuổi trẻ và tiếng thủ thỉ khuyên bảo của người đi trước…
“Kìa, ông ta vừa nhắc đến tên ai nhỉ?”…
Người đàn bà giật mình, cô níu lấy thành ghế nghe lại lần thứ hai. Trần Phương vừa nhắc đến tên người đã từng đẩy mình ra khỏi cương vị lãnh đạo năm năm trước. Ông ca ngợi ông ta ngọt ngào xuôn xẻ làm sao. Tên tuổi con người quyền thế này Linh đã nghe biết bao lần trong những lúc chuyện trò gần gũi. Trần Phương, với giọng điệu oán hờn, căm tức. Chính cô, vì tình yêu, cũng đã từng nguyền rủa ông ta, cũng đã có những giấc mơ rồ dại để thoả mãn lòng căm ghét. Giờ đay… Người đàn bà cúi xuống vì mặt cô bỗng nóng bừng như lửa đốt. Toàn thân cô đờ dại vì hổ thẹn tái tê. Một cái gì đó vừa đổ sụp trong cô như tiếng sét vừa bổ toác gốc cây trường thụ, như cơn sóng thần giật đổ bức thành đá cheo leo bên bờ biển ném xuống lòng đại dương cả khối đau buồn nặng trĩu đã tích tụ qua dằng dặc tháng năm. Thần tượng của cô đã đổ xuống rồi. Cái tích tắc ấy, Linh nhận được tất cả những cảm thức mơ hồ đã loé lên như đốm lửa rồi lại bị xoá đi bởi sự si mê cuồng dại. Kể từ buổi tối Trần Phương đưa cô tới phòng biểu diễn của Hội nhạc sĩ, mặt ông đã hiện lên vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn của chiếc mặt nạ phơi dưới ánh đèn…
“Tiếng vỗ tay rào rào như đá lở vang lên bên tai Linh: Không hiểu ông ta vừa nói những gì nữa với đám thanh niên? Những lời lừa mị bao giờ cũng êm dịu”…
Trần Phương cười, nghiêng đầu trước sự cổ vũ nồng nhiệt của đám đông. Gương mặt ông tươi tắn hồn nhiên như trẻ nhỏ. Ông phác một cử chỉ từ chối người phục vụ bưng lên cốc nước giải khát, rồi bước xuống bục.
“Ông ta nhởn nhơ thật, con người này đến ma quỷ cũng không hiểu được tâm can”…
Người đàn bà nhói lên cơn đau rồ dại: Bao nhiêu đêm ngày cô đã tơ tưởng ông với trái tim đam mê và ngưỡng vọng. Bao nhiêu đêm ngày cô đã chịu đựng tủi nhục, cay đắng, thua thiệt vì ông?... Những âu lo, khắc khoải tàn phá tâm hồn và thể xác?... Tất cả hiện lên với bộ mặt trơ trẽn và buồn thảm. Cô đã ôm ấp đã thờ phụng một gã tiến sỹ giấy trong tủ kính phố Hàng Mã. Giờ đây, những lượt áo choàng giấy trang kim đã bị bóc ra tả tơi, rách nát, chỉ còn trơ lại chiếc rọ tre làm cốt bên trong.
- Tại sao mình lại gàn dở thế, lúc này là lúc mình được hưởng hạnh phúc vinh quang…
Linh tự nhủ. Nhưng ngay tức khắc, cô biết điều đó không thể có được. Cô không thể yêu Trần Phương được nữa khi ông ta vừa đứng trên bục cao, cũng là lúc cô nhìn rõ giá trị thật của ông. Còn ông, ông sẽ tìm ngay được một người đàn bà khác thế chỗ cô, và cô sẽ chỉ còn là bóng ma vật vờ trong ký ức của ông. Một ký ức ông sẽ thả mù sương để không còn phải nhìn rõ một ảnh hình nào…
Người đàn bà run lên. Cô không làm chủ được mình. Ý muốn trả thủ vụt dậy, và mỗi lúc một bùng lên như đám cháy rừng gặp gió.
“Lão ấy phải chết. Mình sẽ tiêu diệt lão”…
Đứa em gái quay sang:
- Chị Linh, làm sao thế, chị trúng gió rồi?...
Cô bé đỡ lưng chị, vừa lúc lời tuyên bố bế mạc vang lên trong loa. Sinh viên khắp giảng đường ồn ào xô ra cửa:
- Chị có đi được không? Em nhờ người gọi y tá đến nhé?
- Không.
Linh lắc đầu. Cô đã trở về, lăn ra giường tức khắc và cứ nằm như thế tới mười giờ sáng hôm sau. Trong khoảng thời gian chập chờn giữa những giấc ngủ ngắn và những cơn suy nghĩ lao lung, cô đã tiêu diệt Trần Phương một ngàn lần, đã nhục mạ ông một trăm lần, nhưng khi thức giấc, cô chỉ thấy mấy con muỗi vo ve bay quanh đầu và một vệt nắng trắng như bạc bò qua sàn nhà. Đầu nặng, chân tay rã rời:
“Chưa trả thù được lão ta, mình không có quyền ốm”.
Cô tự xoa bóp dầu, đi ăn sáng và uống thuốc. Mười một giờ, Linh lên lớp tiết cuối cùng. Sáng hôm sau, cô đến Hội nhạc sĩ, đứng chờ trước cổng. Trần Phương nhìn thấy cô ngay. Ông bảo cậu lái xe đưa xe vào trong sân còn mình đi tới người yêu:
- Mấy hôm nay anh bận quá…
Ông nhìn đôi mắt nảy lửa của cô, nói nhẹ nhàng: “Em tha thứ cho anh nhé, chưa có mọt phút rảnh nào để mang quà tới cho em”. Linh không đáp, cô vẫn nhìn ông trừng trừng như để đo đếm thêm một lần con người cô đã từng coi là mặt trời của cả thế gian. Trần Phương từng trải, ông hiểu rằng hiểm nguy đang chập chờn đâu đó quanh mình. Hạ thấp đôi mi dày xuống. Ông nói như nài nỉ:
- Tha thứ cho anh… Chủ nhật này mình sẽ lại có nhau…
Cô dường như không nghe ông nói, cô lẩm bẩm:
- Ông là kẻ dối trá hèn hạ. Ông là kẻ lường gạt…
Trần Phương nhìn quanh, đáp khẽ khàng:
- Đừng nói như thế, hãy bình tĩnh đi em.
Lúc ấy, Linh quắc mắt lên nhìn Trần Phương, khẽ gầm lên trong họng:
- Kẻ lừa đảo ti tiện, ông không giống con người tôi đã tưởng tượng chút nào..aotng honguanh d
Nhạc sĩ ngước mắt lên, đôi mắt đen ướt đầy vẻ giễu cợt. Ông cười:
- Em rồ dại quá, làm gì có con người trong tưởng tượng? Chỉ có con người giữa cuộc đời.
Tích tắc ấy, Linh thấy vẻ thương hại trong anh mắt Phương. Đấy là vẻ thương hại trong mắt tên đại bợm nhìn kẻ khờ khạo vừa bị gã nẫng sạch túi tiền:
- Đồ khốn nạn.
Người đàn bà bật lên tiếng kêu uất ức. Tiếng kêu nghẹn ngào không thoát khỏi họng. Trần Phương nhìn Linh với ánh mắt lạnh lùng và nói:
- Co dừng lại ngay. Thêm một cử chỉ nữa, tôi sẽ tống cô vào nhà thương điên.
Đôi mắt ông biến màu, xám như chì, độc ác và tàn nhẫn. Nói xong, ông quay lưng bước vào sân ngay. Cô thư ký từ trên gác chạy xuống:
- Báo cáo anh, hội nghị đang chờ anh.
- Tôi lên đây.
Nhạc sĩ đáp và sải chân bước. Không ai thấy cảnh tượng vừa xảy ra trừ vài người khách đi đường. Họ ngạc nhiên tò mò nhìn theo Trần Phương. Nhưng chỉ hai giây sau ông đã mất hút trong hành lang của tầng gác.
°
Mùa xuân trôi êm lắng như dòng nước ấm dưới đôi bờ cỏ. Thế rồi, chẳng mấy chốc mà đến tháng ba. Lúc mơn mởn ngoài cánh đồng, để những ai từ thành phố bước ra sẽ ngây ngất trước vẻ quyến rũ của cỏ cây và mùi thơm đằm thắm nơi đồng nội. Những con mưa phùn đã cuốn về non cao. bầu trời xanh màu xanh bí ẩn của buổi xuân tàn hạ tới. Khắp phố phường xao xác lá sấu lửa dịu dàng chen sắc lá non và cuốn vào chân du khách. Công nhân đô thị lùa chổi quét không ngơi tay nhưng thác lá vàng lộng lẫy kia không ngừng trút xuống phố phường niềm xốn xang êm ả. Mùa hè đã đứng ngoài ngưỡng cửa, rồi nó sẽ đem tới tưng bừng hoa phượng đỏ và ánh chói chang của bầu trời, nó sẽ đem tới tiếng chim rộn rã và tiếng ve ánh ỏi ban mai, nó sẽ đem tới nưhngx sung sướng oi nồng lẫn những ngột ngạt của giông gió… Đó sẽ là thời khắc trái cây chín nẫu và con người mỉm miệng cười sau khi đã lau dòng nước mắt trầm luân… Nhưng lúc này còn là thời khắc cuối cùng để ta ghi nhận một mùa xuân khắc nghiệt. Giữa tháng ba âm lịch năm ấy, trước Nhà hát lớn thành phố treo tấm biển quảng cáo cuộc thi các tác phảm nhạc không lời do Hội nhạc sĩ tổ chức.
Linh quanh quẩn mãi trước tấm biển đó, bị giằng xé giữa ý muốn có một tấm vé và trở về nhà. Người đàn bà không hiểu vì sao, sau bao nhiêu ngày đêm căm hận và đau đớn, giờ đây lại dậy lên niềm khao khát được nhìn thấy mặt Trần Phương:
“Tại sao, vì tò mò hay vì quá khứ?”…
Cô tự hỏi mình, rồi im lặng không dám đáp lời. Tình yêu và thù hận có thể ví như non cao và vực thẳm nhưng chúng không tương phản một cách đơn giản như thế. Trong đấy cùng sự thù hận vẫn có những hạt mầm đã ung thối của những đắm say. Vả chăng, khi đặt quá nhiều kỳ vọng vào một thần tượng nào đó, lúc sụp đổ rồi nó vẫn còn làm xáo động trái tim ta trong những cơn hốt hoảng.
“Tại sao?”…
Có thể đấy là nỗi tò mò, nhưng có thể đấy là cơn sốt của nỗi luyến tiếc vô hình tiềm ẩn trong tâm trí. Linh hình dung đôi mắt đen ảm đảm của ông với ngọn triều đen thẫm dâng lên trong những phút bất thần. Giọng điệu ngọt ngào và gian dối. Mái tóc chưa hề có sợi bạc, và hàm răng trắng ánh trẻ trung… Tình yêu của cô với con người đó nặng nền quá vì nó đã dồn tụ lại biết bao nhiêu đối cực tình cảm của đời người. Cô cần phải nhìn thấy ông ta, phải nhìn kỹ thêm lần nữa dù đó chỉ là những mảnh vỡ tượng thần.
Người đàn bà quyết định mua một tấm vé. Cô muốn mình cô tới Nhà hát hôm đó.
Ba hôm sau, tới đêm công diễn chương trình chung kết. Linh đến sớm nửa giờ. Đứng trên thềm nhà hát, cô nhìn những nhạc công từ ôtô buýt đi xuống, tay xách nhạc cụ, chân bước vội vã. Họ có vẻ như ăn cơm muộn hoặc vừa từ nơi hò hẹn tới đay. Gương mặt họ bình thản, người này cười, người kia nhăn nhó nói gì đấy với đồng nghiệp. Linh vào nhà hát, tìm đúng số ghế của mình. Cô vừa yên vị, chuông réo báo hiệu mười lăm phút nữa sẽ tới giờ mở màn. Vẫn chưa thấy Trần Phương đâu. Mười hai phút nữa, đúng lúc cô quay lại phía cửa, một nhóm người tiến vào. Trần Phương đi giữa bọn họ. Ông ta bận chiếc áo da sang trọng, cô đã quen nhìn, dù trời không còn rét lắm. Mái tóc cắt cao hơn khiến gương mặt ông có phần khô khan, khổ hạnh. Bộ râu quai nón được cạo nhẵn. Một phong thái nghiêm trang xa lạ vây bọc con người cô đã thuộc từng mụn ruồi nhỏ trên tay tựa hồ ông ta vừa được nhúng tgrong một dung dịch nào đó vớt lên. Bên cạnh Trần Phương, bà Hoa ngật ngưỡng bước, tay khoác tay chồng. Công chúng xì xào nhắc tên họ. Hai người dường như nở nang ra vì sung sướng, ông chồng hờ hững kiêu sa, còn bà vợ vênh váo như con gà mái. Họ đã tới cách Linh hai hàng ghế. Đột nhiên, Trần Phương cúi đầu xuống. Có lẽ vì đôi mắt sáng chói của cô thiêu đốt. Ông nhận ra Linh. Người đàn ông giật thót người, mặt tái đi. Mắt ông hiện lên nỗi thảng thốt. Môi ông run run, lắp bắp điều gì đó rồi ngay tức khắc, ông quay mặt, rảo bước vượt qua hàng ghế của Linh:
“Lão ấy run sợ”…
Linh nghĩ, nỗi háo hức phập phồng của cô tan biến: Một thằng hèn, chỉ có thế thôi… Không còn mảy may xao động, người đàn bà đưa mắt nhìn theo nhạc sĩ. Ông ta ngồi hàng ghế đầu têin, mái tóc bắt ánh đèn, sáng lên một mảng. Người giới thiệu trịnh trọng đọc chương trình rồi giới thiệu thành phần ban giám khảo. Trần Phương đứng lên đầu tiên. Tiếng vỗ tay rào rào. Linh không nghe thất gì ngoài lớp sóng âm kia. Chúng làm rung động những mảnh tan tác còn lại trong tâm hồn cô, giống như một cơn xoáy lốc cuốn bụi mù lên giữa một thành trì đổ nát. Cô là người đàn bà không tên tuổi. Một con số khiêm nhường giữa đám đống, lúc ấy, cô chợt hiểu được quyền lực của vinh quang và danh vọng. Sức mạnh thần bí đẩy con người lên đỉnh non thăng hoa hay hố thẳm của tội ác với cùng một gương mặt tươi cười. Trần Phương vẫn ngồi đó, dưới ánh đèn sáng rực. Hẳn ông ta biết điều cô nghĩ với ý thức của kẻ phục tòng. Con người hiểu hiểu tất cả những gì là cao cả, là tốt đẹp, là nhân ái nhưng lại sẵn lòng quên đi tức khắc. Loài chim đã hót lên khúc nhạc thanh khết của đời sống rồi lại thả tiếng hót ấy vào hang đá tối tăm…
Tiếng vĩ cầm bỗng réo rắt vang lên. Không, cả một dàn nhạc dây đã mở đầu bản giao hưởng thứ nhất trong đêm diễn. Linh không nhìn lên sân khấu, nơi người nhạc trưởng giơ chiếc gậy chỉ huy len múa với vẻ nồng nhiệt của kẻ cuồng si, nơi ánh đèn nhay trên những bộ phận mạ kền hoặc bằng đồng của nhạc cụ, lấp loá như chớp lửa. Cô cúi đầu vì lần hơi ấm áp đang trùm lên tất cả, dười như mẹ nghiêng xuống bên vai nựng nịu cô, dường như làn ánh sáng mờ nhạt của tà dương vừa chiếu rọi trong mắt cô ánh hồi quang của những chiều sung sướng, dường như dưới sương mù quên lãng, tiếng lao xao của sóng nước, tiếng rỉ ran cảu dế kêu, tiếng lảnh lót của chim hót, tiếng xạc xào của cây vườn vừa thức dậy cùng hoà tấu chào đón ban mai. Và bố cô, hiền từ trầm lặng dắt cô tới vườn hoa ngoại ô của thành phố. Ở đó, giữa những đoá xu xi vàng óng, giữa những bông cẩm chướng cánh mịn như nhung, giữa những bông mõm sói trắng tinh và những đoá thược dược đỏ gay gắt, cô bé Linh mải mê kiếm tìm những bí ẩn: nào là con ong mật rúc trong đài hoa loa kèn, nào là chú bò rùa lưng đỏ, cánh đen núp dưới tảng lá… Phải, đời sống sẽ mãi là những cuộc tìm kiếm mải mê như thế. Có chi đáng kể cho ta phải thất vọng sau mỗi lần vấp ngã đâu?... mỗi lần một ảo vọng tan vỡ là một lần con người lớn khôn lên. Mỗi lần ta xô đổ một tượng thần đất sét là một lần ta bước lên bậc thềm minh triết. Con người cần nếm trải đắng cay của thất vọng để tìm lại những hy vọng tốt lành…
“Không, không, con người ấy không đáng để ta phải huỷ hoại đời mình, không đáng để ta hằn thù và đau đớn”…
Người đàn bà nghĩ, bình thản nhìn nỗi đau của chính mình. Vì ông ta, cô đã phải hứng chịu biết bao nhiêu tan nát. Nhưng từ đó, cô đã thức tỉnh và lớn mạnh hơn. Con người sẽ mãi mãi không trưởng thành khi còn trao gửi niềm tin vào kẻ khác, cho dẫu đó là một thần tượng được vây bọc bởi hào quang chói lọi của trăm ngàn tinh tú cùng hội chiếu một lần. Con người cần phải đặt niềm tin và trao gởi hy vọng vào chính bản thân mình, bởi lẽ bằng chính đôi tay đôi chân của mình, họ sẽ đi tới cái đích tận cùng của đời sống…
Tiếng dàn nhạc dây vừa chìm xuống, âm giai thánh thót của cây dương cầm dội lên. Nó gieo vào trái tim người đàn bà niềm trìu mến vô tận của cuộc đời, tựa như tiếng mưa gõ trên mái nhà cô đơn một chiều xuân ngập nắng, vào thời khắc những con thú ra khỏi hàng ổ và những kẻ chán chường rũ lớp bụi mốc meo tù đọng trong tâm trí để hoà nhập vào dòng đời cuồn cuộn sinh sôi. Sau một tích tắc đột ngột im lặng, tất cả các nhạc cụ đều tấu lên khúc ca dạt dào của ngọn triều. Đại dương hiện lên với dài bờ đẫm sóng, làn nướ xanh bèo bọt, tàu bè và chim chóc, các cơn dông tố và những rạng đông…
Linh chợt nhớ hình ảnh thành phố biển mà cô đã cảm nhận vào cái đêm chối bỏ tình yêu với Nguyên. Mùi cá tanh lợm với lớp váng dầu trong bến cảng, những rêu rong lẫn xác cá trôi dạt vào bờ bãi… Giờ đây, cô sẽ nhìn chúng bằng con mắt dạn dày của kẻ đã nghiệm sinh. Không còn gì khiến cô phải thảng thốt đớn đau hoặc si mê cuồng vọng. Nỗi bất bình sẽ được đo đếm và niềm tin cũng chỉ gởi trao khi đã trải qua những nắng mưa… Cô không bao giờ tha thứ cho Nguyên, nhưng cô đã nhìn lại ở anh những cánh đồng vàng óng ngày mùa vườn quả chín và bóng cây trên hồ nước. Cô sẽ công bằng với anh hơn để mãi mãi chia ly cô chỉ có thể đi trên con đường của chính cô…
Tiếng vỗ tay ran lên trong Nhà hát. Người đàn bà thấy cần phải rời bỏ ngay tức khắc nơi đây để được hưởng trọn vẹn niềm hạnh phúc trong trái tim mình. Người chỉ huy cúi chào công chúng lần nữa, mặt ông ta đẫm mồ hôi. Linh chờ ông ta khuất sau cánh gà sân khấu, để đứng lên, rời khỏi ghế. Trần Phương quay đầu trò chuyện với một người trong ban giám khảo ngồi ghế sau. Thấy cô, ông cụp mắt xuống, ngoảnh sang nơi khác.
“Hèn mọn và thảm hại”…
Linh thầm nói. Rồi cô bước giữa hai hàng ghế, ra cửa. Cậu bé soát vé cửa hỏi:
- Chán hay sao mà về bà chị?
- Không, hay lắm. Nhưng tôi có việc phải về.
Linh gật đầu chào cậu ta, bước ra. Hết bậc tam cấp cô xuống lòng đường, thả bộ lững thững. Chợt ai đó cất tiếng sau lưng cô:
- Chào cô giáo Linh.
Người đàn bà quay lại và nhận ra gã hoạ sĩ ăn bận lôi thôi theo chiếc túi thổ cẩm đã gặp. Cô đáp:
- Chào anh.
Y rảo bước.
- Chị cho phép tôi đi cùng chứ.
- Vâng, tuỳ anh.
Y im lặng. Họ qua một quãng phố, tới ngã ba đường. Gã đàn ông băn khoăn định hỏi điều gi đó nhưng chưa biết cách mở đầu. Y nói:
- Chị... chị khoẻ chứ?
Linh nhìn y, bật cười:
- Cảm ơn, tôi cũng bình thường.
Gã dừng lại, chợt níu tay áo Linh nài nỉ khẩn thiết :
- Tôi xin chị một vài ngày… Tôi định vẽ chân dung thiếu nữ. Muốn phiền chị từ lâu nhưng không dám.
Ánh mắt say đắm của y nhìn cô chân thành. Linh bỗng tin cậy người đàn ông lập dị mà xưa kia cô thường xa lánh và ngờ vực. Cô hiểu rằng, với y, cô chỉ là một ráng mây trên ặmt biển, một sắc hoa giữa núi non, một dải nắng chiều trên cánh đồng xanh thắm… cô là một bộ phận của toàn thể cuộc sống trần thế mà y khát khao và thờ phụng, cuộc sống mà y yêu mê không tính toán mưu cầu :
- Vâng, ngày chủ nhật mời anh tới trường – Cô trả lời y - Giờ, tôi xin lỗi anh vì có việc bận.
Linh chào y, đi tới nhà quen cô gửi xe ở gần đó. Cô muốn trở về căn phòng nhỏ của mình ở thư viện, không bị thúc hối, không bận bịu nhưng cần yên tĩnh Người đàn bà bước đi trong thành phố. Lần đầu tiên cô không dựa đỡ vào một cứu cánh nào khác mà thấy mặt đất vững chãi dưới chân mình. Đêm dịu êm. Có thể nghe rõ tiếng lá xào xạc rụng lẫn tiếng nứt khẽ khàng của chồi non bung khỏi búp, của cánh hoa bật khỏi đài hoa, và phía sau những âm thanh ấy, còn những âm thanh câm nín khác, những âm thanh dội lên từ những dông bão thầm kín trong trái tim người, nơi mỗi sự thức tỉnh phải đổi bằng những đớn đau thua thiệt, nơi niềm hy vọng mới được xây cất trên thành trì đổ vỡ của những ảo vọng cũ, và đời sống như dây trường xuân sẽ trùm phủ lên những vồng hoa tươi thắm, bất cháp mọi tan nát, bất chấp mọi dối lừa…

HẾT
Hà nội, 27-5-1986
Dương Thu Hương



No comments:

Post a Comment